- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân T bị truy tố về tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐĂK LĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2020/HS-ST Ngày: 05 - 6 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Phạm Thế Chiến.
2/ ÔngVũ Kim Quy.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Hữu Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 07/2020/TLST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa ngày 18 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Xuân T, sinh ngày 23 tháng 11 năm 1957, tại tỉnh H; nơi cư trú: Thôn 10, xã H1, Tp. B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Xe thồ; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1937, bị cáo đã ly hôn và có 06 người con, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1996.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/02/2020 đến ngày 13/02/2020 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiêntòa.
- Người chứng kiến:
1/ Ông Nguyễn B1, sinh năm 1957 – Vắng mặt.
2/ Bà Phạm Thị T2, sinh năm 1958 – Vắng mặt.
Cùng trú tại: Buôn E, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18h ngày 03/02/2020 Nguyễn Xuân T (làm nghề chạy xe thồ) đang đứng đợi chở khách ở Ngã 3 D1, Tp. B, tỉnh Đắk Lắk thì có 01 người thanh niên (không xác định được nhân thân lai lich) đi đến hỏi T: “Mua ma túy không ?”. Nghe vậy T nói là có. Người thanh niên lấy trong túi quần 01 túi nylon màu trắng, bên trong có 01 gói giấy bạc màu vàng chứa chất bột màu trắng, bán cho T với số tiền 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T về nhà. Đến khoảng 10 giờ ngày 04/02/2020, Nguyễn Xuân T bỏ ma túy trong người, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47B2-219.58 (xe mượn của anh Đỗ Sĩ T3) đi xuống thôn Q, xã E, huyện K để thăm bạn. Khi đi đến đoạn đường thuộc Buôn E, xã E, huyện K, thì bị Công an huyện K bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên trái phía trước của Nguyễn Xuân T 01 núi nylon màu trắng, bên trong có 01 gói giấy bạc màu vàng có chứa bột màu trắng, Công an huyện K lập biên bản phạm tội quả tang và thu giữ 01 xe mô tô hiệu Sirius, biểm kiểm soát 47B2-219.58 và niêm phong vật chứng để phục vụ công tác điều tra.
Tại bản kết luận giám định số: 85/GĐMT - PC09 ngày 07/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Chất bột màu trắng đựng trong gói giấy bạc màu vàng được niêm phong là ma túy, có khối lượng 0.625 gam, loại Heroine, sau khi giám định còn lại 0,5816 gam.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Xuân T khai: Bị cáo làm nghề xe ôm, vào ngày 03/02/2020 bị cáo có mua ma túy của một người thanh niên không rõ tên tuổi để sử dụng. Đến ngày 04/02/2020, trên đườngđi đến buôn E, xã E, huyện k thì bị Công an huyện K bắt, khám và thu giữ trong người bị cáo số ma túy đã mua nêu trên. Bị cáo nhân thức việc làm của mình là vi phạm pháp luật.
Cáo trạng số: 11/CT-VKS-HS ngày 20/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T từ 18 đến 24 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 0,5816 gam heroine (khối lượng ma túy còn lại sau giám định).
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện K đã trả lại chiêc xe mô tô biển kiểm soát 47B2-219.58 cho ông Nguyễn Sĩ T3 là chủ sở hữu hợp pháp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
. Xét lời khai của bị cáo Nguyễn Xuân T tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào ngày 03/02/2020 bị cáo Nguyễn Xuân T đã tàng trữ trái phép 0,625 gam Heroine trong người, khi đi đến buôn E, xã E, huyện k thì bị Công an huyện K bắt quả tang. Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
.Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.
Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR- 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5gam”.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến trật tự quản lý Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển chất ma tuý, là nguyên nhân trực tiếp gây mất ổn định trị an xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sức khoẻ con người, là nguyên nhân lây lan căn bệnh HIV – AIDS, gia tăng các tệ nạn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người đủ khả năng nhận thức và buộc phải biết chất ma tuý được Nhà nước thống nhất quản lý, mọi hành vi sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy đều bị pháp luật trừng trị. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo đã mua và tàng trữ trái phép 0,625 gam ma túy loại Heroine để sử dụng. Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nêu trên, cần áp dụng hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục bị cáo nói riêng, đồng thời có tác dụng răng đe, phòng ngừa tội phạm chung.
. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt trước khi phạm tội, là người cao tuổi và đang điều trị bệnh cao huyết áp vô căn, kinh tế gia đình khó khăn, làm nghề xe ôm, là lao đông chính phải nuôi mẹ già. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, là người cao tuổi, trước khi phạm tội có nhân thân tốt. Cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử dưới khung hình phạt thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Nguyền Xuân T. Quá trình điều tra chưa xác minh được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Ana tiếp tục xác minh xử lý sau là phù hợp.
. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 0,5816 gam Heroine (khối lượng ma túy còn lại sau giám định).
(Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, ngày 24/3/2020)
. Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi và có đơn xin miễn, giảm án phí, Hội đồng xét xử xem xét miễn giảm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 04/02/2020 đến ngày 13/02/2020.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 0,5816 gam Heroine (khối lượng ma túy còn lại sau giám định).
(Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Ana, ngày 24/3/2020)
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) cho bị cáo Nguyễn Xuân T.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện; - CA huyện; - THAHS; THADS; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM PHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Minh Tân |