- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM! !!!!!!!!!HUYỆN!H!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Độc!lập!–!Tự!do!–!Hạnh!phúc! !!TỈNH!ĐỒNG!THÁP!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2020/HS-ST Ngày 28 tháng 4 năm 2020 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!H,!TỈNH!ĐỒNG!THÁP!
- Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:
Thẩm"phán"–"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Lâm Quốc Sách.!
Các"hội"thẩm"nhân"dân: Ông Nguyễn Tuấn Lam - Ông Nguyễn Văn Ta.
-"Thư"ký"phiên"tòa: Ông Dương Thành Tâm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
-"Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"huyện"H,"tỉnh"Đồng"Tháp"tham"gia" phiên"tòa: Ông Ngô Hữu Ý - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Đồng Tháp tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2020/TLHS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
*!Nguyễn!Thanh!T, sinh ngày 04 tháng 9 năm 1996 tại tỉnh Đồng Tháp;" Nơi"cư"trú: ấp T, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề"nghiệp: Làm thuê; Trình" độ"học"vấn: Không biết chữ; Giới"tính: Nam; Quốc" tịch: Việt Nam; Dân"tộc: Kinh; Tôn" giáo: Không; Con" ông: Nguyễn Văn D, sinh năm: 1955 và" bà: Nguyễn Thị P, sinh năm: 1953; Tiền"án: Chưa có; Tiền"sự: Ngày 07-01-2020 Nguyễn Thanh T bị Công an xã T, huyện H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, với số tiền 1.500.000 đồng, chưa nộp phạt, (tính đến ngày thực hiện hành vi trộm lần này chưa hết thời hiệu thi hành theo quy định); Bị cáo tại ngoại (Có mặt).
- Người"bị"hại:!Nguyễn Thị Bích X, sinh năm: 1990. (Vắng mặt)
Cư"trú:"ấp"T,"xã"T,"huyện"H,"tỉnh"Đồng"Tháp.
- Người"làm"chứng: "
1. Nguyễn Văn H, sinh năm: 1960. (vắng mặt)
2. Nguyễn Huỳnh H, sinh năm: 2005. (vắng mặt)
Người"đại"diện"theo"pháp"luật"của"Nguyễn"Huỳnh"H"là: Nguyễn Văn H, sinh năm 1960 (cha của H).
3. Võ Văn Đ, sinh năm: 1967. (vắng mặt)
Cùng"cư"trú:"ấp"T,"xã"T,"huyện"H,"tỉnh"Đồng"Tháp."
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:
!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:
Ngày 07-01-2020, Nguyễn Thanh T bị Công an xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền là 1.500.000 đồng (chưa nộp phạt), chưa hết thời hiệu thi hành theo quy định - nay lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Cụ thể:
Khoảng 12 giờ 25 phút ngày 13-01-2020, bị cáo Nguyễn Thanh T đi bộ trên lộ làng từ nhà mình thuộc ấp T, xã T, huyện H đến ngang nhà ông Nguyễn Văn H thuộc ấp , xã T, huyện H thì nhìn vào sàn nhà ông H thấy chiếc điện thoại hiệu Samsung Galaxy Note 3, màu trắng của chị Nguyễn Thị Bích X (con ông H) đang để sạt pin trên giường ngủ, dưới sàn nhà không người trông coi, bị cáo T nảy sinh ý thức trộm, nên bị cáo T đi thẳng vào đến nơi để điện thoại dùng tay rút dây sạt pin ra và lấy điện thoại cầm vào tay đi ra ngoài được khoảng 04 mét, thì anh Nguyễn Huỳnh H (con ông H) đang ngồi trên xe cải tiến sửa mái nhà cùng ông H cách bị cáo T khoảng 6,49 mét phát hiện bị cáo T trộm điện thoại và truy hô, anh H cùng ông H rượt đuổi theo, bị cáo T bỏ chạy được khoảng 42,5 mét (theo hướng ra lộ 841) thì bị cáo T ném điện thoại lại xuống đất, anh H nhặt được và bị cáo T tiếp tục bỏ chạy đến đầu đường (giáp lộ 841) thì bị cáo T bị ông Võ Văn Đ chặn lại được, lúc này ông H điện thoại báo Công an xã T và Công an xã T mời bị cáo T về trụ sở làm việc, tại đây bị cáo T thừa nhận toàn bộ việc thực hiện hành vi trộm của mình như nêu trên.
Vật chứng thu giữ được: Một điện thoại hiệu Samsung Galaxy Note 3, màu trắng, đã qua sử dụng.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 02/KLĐG-TTHS ngày 27-01-2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, kết luận: Một điện thoại hiệu Samsung Galaxy Note 3, màu trắng, đã qua sử dụng (Bị cáo T trộm của chị X), trị giá 350.000 đồng.
Quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thanh T thừa nhận lấy trộm điện thoại như nêu trên để đem bán (hoặc cầm) lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Tại phiên tòa lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Thanh T: Đã ăn năn, hối cải về hành vi trộm của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Theo Bản cáo trạng số: 12/CT-VKSHN, ngày 19-3-2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố đối với Nguyễn Thanh T về tội
2
“Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T, từ 06 tháng đến 09 tháng tù; Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: không phát sinh nên không đề cập đến.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Đây là vụ án hình sự, theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về hành vi “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, và vụ án xãy ra tại địa phận huyện H nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thì Tòa án có triệu tập những người tham gia tố tụng, nhưng tại phiên tòa thì người bị hại và những người làm chứng đều vắng mặt không lý do (mặt dù đã được triệu tập hợp lệ). Xét thấy qua ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, những người tham gia tố tụng có mặt, thì việc vắng mặt những người nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, vã lại họ đã có lời khai tại Cơ quan điều tra có trong hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Tại phiên tòa bị cáo đã tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội của mình, không bị ép buộc; Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Nên Hội đồng xét xử không đặc vấn đề giải quyết.
[2]. Về nội dung vụ án:
Ngày 07-01-2020, bị cáo Nguyễn Thanh T bị Công an xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền 1.500.000 đồng (chưa nộp phạt, chưa hết thời hiệu thi hành theo quy định). Bị cáo T do không có nghề nghiệp ổn định vã lại ngựa quen đường cũ và cần có tiền tiêu xài cá nhân, cùng với ý thức bất chấp pháp luật, nên vào ngày 13-01-2020 bị cáo Nguyễn Thanh T tiếp tục lén lúc trộm hoàn thành một điện thoại hiệu Samsung Galaxy Note 3, màu trắng, đã qua sử dụng của chị Nguyễn Thị
3
Bích X đang để sạt pin trên giường, dưới sàn nhà ông H, (theo kết luận số 02/KLĐG-TTHS ngày 27-01-2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H thì có giá trị 350.000 đồng). Tại phiên tòa cũng như qua quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Thanh T đã thừa nhận toàn bộ diễn biến việc thực hiện hành vi của mình như đã nêu trên, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, cũng như diễn biến tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy: Mặt dù lần trộm này chưa đủ định lượng theo quy định, nhưng vào ngày 07-01-2020 bị cáo Nguyễn Thanh T đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản (trộm cắp) và đang thi hành quyết định chưa hết thời hạn quy định mà lại vi phạm tiếp, nên đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, như Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.!
Điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:
“1."Người"nào"trộm"cắp"tài"sản"của"người"khác"trị"giá"từ"2.000.000"đồng"đến" dưới" 50.000.000" đồng" hoặc" dưới" 2.000.000" đồng" nhưng" thuộc" một" trong" các" trường"hợp"sau"đây,"thì"bị"phạt"cải"tạo"không"giam"giữ"đến"03"năm"hoặc"phạt"tù"từ" 06"tháng"đến"03"năm.
a)"Đã"bị"xử"phạt"vi"phạm"hành"chính"về"hành"vi"chiếm"đoạt"tài"sản"mà"còn"vi" phạm;"
…..”"
Dưới chế độ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của ta, thì tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản hợp pháp của công dân, của Nhà nước đều được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi trái pháp luật xâm phạm đến đều bị pháp luật trừng trị. Vậy mà bị cáo Nguyễn Thanh T là người đầy đủ năng lực hành vi và hiện đang thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản chưa hết thời hạn theo quy định, nhưng lại không có ý thức giác ngộ, ăn năn, sửa chữa lỗi lầm, mà chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân trên công sức lao động của người khác, để rồi tiếp tục bất chấp nguy hiểm, bất chấp pháp luật, liều lĩnh lợi dụng khi không có ai trông coi ngay giữa ban ngày lén lúc lấy trộm hoàn thành chiếc điện thoại hiệu Samsung Galaxy Note 3, màu trắng của chị Bích X (theo kết luận số 02/KLĐG-TTHS ngày 27-01-2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H thì có giá trị 350.000 đồng), hành vi này đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác một cách trái pháp luật, nên sẽ bị pháp luật trừng trị. Việc bị cáo Nguyễn Thanh T cố ý tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp là đã thể hiện một bản chất lười biếng lao động, xem thường pháp luật, chấp nhận một lần nữa đánh đổi phẩm giá của mình bằng con đường phạm tội. Đáng lý ra bị cáo Nguyễn Thanh T phải có suy
4
nghĩ rằng mình tuổi đời còn trẻ, đang sống phụ thuộc gia đình và đang thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính chưa hết thời hạn theo quy định (chưa nộp phạt), thì phải từ bỏ thói hư tật xấu, tìm cho mình một việc làm ổn định, có thu nhập chân chính để nuôi sống bản thân và phụ giúp gia đình, cũng như nộp phạt theo Quyết định nêu trên, có như thế mới thể hiện tính nêu gương tốt trong việc chấp hành pháp luật và sự tôn trọng tài sản của người khác, đằng này bị cáo Nguyễn Thanh T không làm được điều đó mà lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp, và hôm nay phải đứng trước phiên tòa chờ phán xét của pháp luật. Từ đó, xét thấy với ý thức, mức độ, hậu quả qua hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh T đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, làm hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an ở địa phương, nên cần phải có một mức hình phạt nghiêm khắc bằng cách cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tốt hơn trong việc chấp hành pháp luật, giác ngộ sửa chữa lổi lầm, phấn đấu trở thành công dân tốt có ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai thiếu ý thức, bất chấp pháp luật, xem thường tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác như bị cáo Nguyễn Thanh T.
Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Thanh T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trình độ học vấn không biết chữ, việc am hiểu pháp luật còn hạn chế và thuộc thành phần lao động chân tay. Nên xem đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, để giảm nhẹ cho bị cáo Nguyễn Thanh T một phần hình phạt. Đó là tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
[3]. Về"vật"chứng: Đối với chiếc điện thoại hiệu Samsung Galaxy Note 3, màu trắng, đã qua sử dụng là của chị Nguyễn Thị Bích X, trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã giao trả lại cho chị X xong và chị X không yêu cầu gì thêm. Hội đồng xét xử, xét thấy là phù hợp nên không xem xét giải quyết lại.
[4]. Về"trách"nhiệm"dân"sự: Do trong vụ án các đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
[5]. Về"án"phí"sơ"thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về án phí, lệ phí, để buộc bị cáo Nguyễn Thanh T nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Qua vụ án này, bị cáo Nguyễn Thanh T nên xem đây là một bài học đáng giá cho bản thân và từ bỏ ý thức xấu xa đó, đồng thời cũng cần nhắc nhở đến
5
mọi công dân nên có ý thức nhiều hơn nữa trong việc quản lý tài sản của mình, không có một khoảng thời gian nào sơ hở để cho những kẽ có ý thức xấu xa thực hiện được hành vi phạm tội, có như thế mới góp phần chung vào phong trào đấu tranh phòng chống tội phạm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
!
1. Căn cứ các Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự;!
2. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T, phạm tội “Trộm"cắp"tài"sản”.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo Nguyễn Thanh T chấp hành án phạt tù.
3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T nộp 200.000 đồng (Hai"trăm"ngàn"đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo Nguyễn Thanh T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (28-4-2020). Đối người bị hại Nguyễn Thị Bích X vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày niêm yết Bản án theo quy định.
5. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi"nhận:"
!!!!!
- TAND tỉnh Đồng Tháp;
!!!!TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!!
- VKSND huyện H;
!!THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA!
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
!
- Chi cục THADS huyện H;
!
- Cơ quan điều tra huyện H;
!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!(Đã!ký)!
- Cơ quan thi hành án hình sự huyện H;
!
- Những người tham gia tố tụng;
!
- Lưu hồ sơ vụ án."
!
!
!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Lâm!Quốc!Sách!!
6