vanban.org

Bản án 13/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cần Đước, tỉnh Long An Tuyên án 26/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Bị cáo Phan Tấn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2] Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phan Tấn L 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/5/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Tấn L phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Phan Tấn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦN ĐƯỚC
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2020/HS-ST
Ngày: 26/5/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Hoàng Nguyễn

2. Ông Nguyễn Ngọc Thi

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Quyền – Thư ký TAND huyện Cần Đước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đước tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Vi – Kiểm sát viên.

Ngày 26/5/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cần Đước, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2020/TLST-HS ngày 25/3/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2020; đối với bị cáo:

Phan Tấn L, sinh năm 1994. (tên gọi khác: B). Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ học vấn: 6/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn N và bà Trần Thị Mỹ T; vợ Võ Thị Yến O, con 01 người, sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/02/2020 cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa).

Người bị hại: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1971 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Văn N, sinh năm 1967 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

Người làm chứng: Anh Phạm Thanh P, sinh năm: 1981 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 07/01/2020 Phan Tấn L đi đặt Lú bắt cá trên sông Vàm Cỏ đoạn gần cống Mương Lớn thuộc Ấp T, xã L, huyện C thì phát hiện ông Phạm Văn H cách bị cáo L khoảng 50m cũng đang sử dụng xuồng vỏ lãi đặt Lú bắt cá nên bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt Lú của ông H vì Lú ông H mới hơn Lú của L. Sau khi ông H đặt Lú xong và đi về, bị cáo L quan sát không có ai trông coi nên chạy xuồng đến chổ ông H vừa đặt Lú dùng dao Thái Lan cắt dây và kéo 50 cái Lú chuyển lên xuồng rồi chạy về nhà. Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, ông H đi thăm Lú và thấy bị mất toàn bộ 50 cái Lú đã đặt nên đi tìm thì phát hiện bị cáo L đã lấy toàn bộ Lú của ông H nên ông H trình báo Công an xử lý.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 10/KL-HĐĐGTS ngày 05/02/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Cần Đước kết luận: 50 cái Lú làm bằng lưới chỉ, gắn vào khung sắt, kích thướt mỗi cái có chiều dài 8,5m có giá trị là 11.200.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo L thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo khai vì để kiếm tiền lo cho cuộc sống hàng ngày nhưng do Lú của bị cáo đã bị cũ rách không bắt được nhiều cá. Vì vậy, khi thấy Lú ông H còn mới nên bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt Lú của ông H. Bị cáo bị truy cứu về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng, không oan sai. Bị cáo Phan Tấn L khai nhận hành vi như trên và xác định những lời khai của bị cáo đã khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cần Đước là do bị cáo tự khai ra; không bị bất kỳ ai hướng dẫn, ép cung hay bức cung để khai nhận hành vi phạm tội.

Người bị hại ông Phạm Văn H trình bày: Đối với toàn bộ tài sản bị mất ông đã thu hồi được nên không yêu cầu về trách nhiệm dân sự. Đối với trách nhiệm hình sự ông có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L, ngoài ra ông không yêu cầu gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn N trình bày: Phan Tấn L là con ruột của ông, do L sử dụng chiếc xuồng của L để làm phương tiện vận chuyển chiếm đoạt 50 cái Lú của ông Phạm Văn H nên Công an đã giao chiếc xuồng cho ông bảo quản nhưng hiện tại chiếc xuồng đã bị mục nát, chìm và trôi đi đâu không rõ nên ông không còn giữ.

Bản cáo trạng số: 10/CT-VKSCĐ ngày 24/3/2020, của VKSND huyện Cần Đước, đã truy tố bị cáo Phan Tấn L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm đã truy tố của Viện kiểm sát đồng thời xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau: bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tang vật thu giữ đã trả lại cho bị hại, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có con nhỏ. Xét bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải về việc làm sai trái. Đây là những tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại Điểm i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, khi lượng hình cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Như vậy, căn cứ tính chất phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, đề nghị HĐXX:

Tuyên bố bị cáo Phan Tấn L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 BLHS.

- Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ Khoản 1 Điều 173 BLHS, Điều 38; Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65, Điều 50 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Phan Tấn L từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án.

Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo đánh bắt cá kiếm sống không tạo ra thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền theo Khoản 5, Điều 173 BLHS.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTHS, đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy đối với: 01 (một) con dao Thái Lan bằng kim loại màu trắng, dài 21,5cm, cán bằng nhựa màu vàng, dẹp, mũi tròn, lưỡi dao rộng nhất 1,5cm

-Về trách nhiệm dân sự: không.

Bị cáo Phan Tấn L đồng ý với tội danh như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa. Bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo trình bày rất hối hận về hành vi phạm tội, xin lỗi người bị hại và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cần Đước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo cùng người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét: Lời khai nhận của bị cáo Phan Tấn L tại phiên tòa phù hợp với lời khai có trong hồ sơ vụ án; phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; Biên bản khám nghiệm hiện trường của vụ án và Kết luận định giá. Hơn nữa, vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập tại cơ quan Cảnh sát điều tra.

Với các tình tiết của vụ án đã được chứng minh tại phiên toà, xét có đủ cơ sở kết luận rằng: Bị cáo Phan Tấn L là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 07/01/2020 bị cáo L khi đi đặt Lú bắt cá trên sông Vàm Cỏ thuộc Ấp T, xã L, huyện C nhìn thấy ông Phạm Văn H đặt Lú cách 50m nên nảy sinh ý định chiếm đoạt Lú của ông H, bị cáo L thấy không người trông coi nên lén lút tiếp cận và dùng dao Thái Lan cắt dây và kéo 50 cái Lú của ông H chuyển lên xuồng rồi chạy về nhà. Hành vi của bị cáo L chiếm đoạt tài sản của người bị hại là thể hiện sự lén lút, nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tài sản bị cáo chiếm đoạt có tổng giá trị 11.200.000đồng, được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và được quy định như sau: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tại không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Như vậy, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đước đã truy tố bị cáo Phan Tấn L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, thể hiện việc bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhất thời phạm tội; bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; ăn năn hối cải về việc làm sai trái; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tang vật thu giữ đã trả lại cho bị hại, có con nhỏ. Người bị hại có đơn xin bãi nại và yêu cầu không xử lý hình sự đối với bị cáo. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các Điểm i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như Viện kiểm sát đề nghị.

Xét hình phạt: Tội phạm do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án tương xứng đối với bị cáo, nhằm đạt mục đích răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội, đảm bảo tính nghiêm minh công bằng của pháp luật; đồng thời giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội. Xét thấy bị cáo có đủ các điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, có khả năng tự cải tạo, việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo nhưng cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn, nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) con dao Thái Lan bằng kim loại màu trắng, dài 21,5cm, cán bằng nhựa màu vàng, dẹp, mũi tròn, lưỡi dao rộng nhất 1,5cm.

- Đối với chiếc xuồng của bị cáo Phan Tấn L dùng làm phương tiện vận chuyển Lú thì theo xác minh của cơ quan Công an hiện tại đã bị mục nát, chìm và trôi đi đâu không rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23, 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phan Tấn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố: Bị cáo Phan Tấn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2] Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phan Tấn L 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/5/2020.

Giao bị cáo Phan Tấn L cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Long An theo dõi, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo (bị cáo L ) thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo (bị cáo L ) cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

[3] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) con dao Thái Lan bằng kim loại màu trắng, dài 21,5cm, cán bằng nhựa màu vàng, dẹp, mũi tròn, lưỡi dao rộng nhất 1,5cm.

- Đối với chiếc xuồng của bị cáo Phan Tấn L dùng làm phương tiện vận chuyển Lú thì theo xác minh của cơ quan Công an hiện tại đã bị mục nát, chìm và trôi đi đâu không rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí:

Căn cứ vào các Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23, 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phan Tấn L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

[6]Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ