vanban.org

Bản án 13/2020/HNGĐ — Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chị Nguyễn Thị Phương Th được ly hôn anh Nguyễn Viết S

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Phương Th và anh Nguyễn Viết S có 01 con chung là: cháu Nguyễn Viết Hoàng A , sinh ngày 23/5/2011. Tiếp tục giao cho chị Th chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành. Tạm hoãn việc trợ cấp nuôi con chung cho anh Nguyễn Viết S cho đến khi có yêu cầu hoặc thay… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Ly Hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chị Nguyễn Thị Phương Th được ly hôn anh Nguyễn Viết S
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

HUYỆN THANH O ,TP. H N
Bản án số: 13/2020/HNGĐ
Ngày: 23/3/2020
“V/v: Xin ly hôn”
 Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Nguyễn Tiến D
Các Hội thẩm nhân dân:
 Bà: Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị Ng
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà bà : Phạm Anh B
95/2020 ngày 20/3/2020 về việc không tham gia phiên tòa.
xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 48/2020/TLST-HNGĐ ngày
27 tháng 02 năm 2020 về việc “ Xin ly h«n” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
15/2020/QĐXX-ST ngày 02 tháng 3 năm 2020 giữa:
1. Nguyên đơn:
Chị: Nguyễn Thị Phương Th , sinh năm 1988
ĐKHKTT: Thôn Hưng Gi , xã Tam H , huyện Thanh O , Tp H N
2. Bị đơn:
Anh : Nguyễn Viết S , sinh năm 1986
ĐKHKTT: Thôn Thanh Th , xã Thanh C , huyện Thanh O ,TP H N
(Hiện anh S đang chấp hành án tại trại giam số II Công an Thành phố H N )
(Tại phiên tòa chị Th có mặt; anh S vắng mặt )
Ngày 23 tháng 3 năm 2020 tại: Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh O - TP H N ;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn vµ lêi khai tiÕp theo cña chị Nguyễn Thị Phương Th thì vụ án có nội dung như sau:

Chị và và anh Nguyễn Viết S , sinh năm 1986 ở Thôn Thanh Th , xã Thanh C , huyện Thanh O , Tp H N , anh, chị đăng ký kết hôn tháng 12/2010 tại UBND xã Thanh C , huyện Thanh O , Tp H N , trước khi đăng ký và tổ chức lễ thành hôn anh, chị có được tư do tìm hiểu là hoàn toàn tự nguyện không ai ép buộc. Sau khi tổ chức lễ thành hôn theo phong tục tập quán địa phương, chị về làm dâu và chung sống tại gia đình nhà anh S ngay, cuộc sống chung của vợ chồng hòa thuận Hạnh phúc được một thời gian gắn, sau đó anh, chị thường xuyên xảy ra những bất đồng trong cuộc sống. Nguyên nhân là do chị phát hiện anh S hay chơi bời nghiện ngập ma túy, chi và gia đình hai bên có khuyên bảo anh đã đi cai nghiện được 02 năm, nhưng khi về anh S lại bị bắt và đi tù 03 năm, anh thường xuyên phạm tội để lại chị nuôi con nhỏ một mình, nay anh Sỹ lại phạm tội mới về tội trộm cắp tài sản. Chính vì thế chị cũng đã không còn tình cảm với anh S nữa, anh S đã làm chị mất lòng tin. Nay chị xét thấy tình nghĩa vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được chị đề nghị tòa án giải quyết cho chị được ly hôn.

Về con chung: Anh, chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Viết Hoàng A , sinh ngày 23/5/2011 hiện nay cháu đang ở với chị. Được tòa án giải quyết cho tôi ly hôn chị xin được tiếp tục nuôi. Chị không yêu cầu anh S phải đóng góp phí tổn nuôi con chung.

Về tµi s¶n chung, c«ng nî, công sức: không có, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Viết S trình bày: Anh đã nhận được thông báo thụ lý giải quyết vụ án về việc chị Nguyễn Thị Phương Th ở xã Tam H , xin ly hôn anh, anh và chị Th kết hôn vào tháng 12/2010, đăng ký kết hôn tại UBND xã Thanh C , trước khi đăng ký kết hôn anh, chị có được tự do tìm hiểu không bị ai ép buộc, sau khi tổ chức kết hôn chị Th về làm dâu và chung sống tại gia đình nhà anh, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn sau đó anh có nghiện ma túy, mải chơi không chịu làm ăn và cũng đã được gia đình, vợ con khuyên bảo nhưng anh không sửa chữa được vẫn lao sâu vào con đường phạm tội dẫn đến vợ chồng phải sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Nay anh đang chấp hành án tại trại giam số II công an Thành phố H N , chị Th xin được ly hôn anh, anh xét tình cảm không còn, chị Th xin ly hôn anh cũng nhất trí.

Về con chung: anh và chị Th có 01 con chung là cháu Nguyễn Viết Hoàng A , sinh ngày 23/5/2011 hiện nay cháu đang ở với chị Th , tòa án giải quyết cho chị Th được ly hôn anh, anh nhất trí để chị Th được tiếp tục nuôi cháu vì anh đang phải chấp hành án không có điều kiện để nuôi cháu, sau này anh chấp hành xong anh đề nghị thay đổi sau.

Về tµi s¶n chung, c«ng nî, công sức: không có.

-Bản tự khai của cháu Nguyễn Viết Hoàng A : Là con chung của chị Nguyễn Thị Phương Th và anh Nguyễn Viết S trình bày: Năm nay cháu 9 tuổi đang học trường tiểu học xã tam H , có nguyện vọng được tiếp tục ở với chị Th để chị Th có đều kiện nuôi ăn học.

T¹i phiªn toµ h«m nay chị Nguyễn Thị Phương Th vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn anh Nguyễn Viết S .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiªn cøu c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ vô ¸n ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ vµ c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ, Héi ®ång xÐt xö nhËn ®Þnh :

Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Phương Th có mặt anh Nguyễn Viết S xin được xét xử vắng mặt vì đang chấp hành án không thể tham gia phiên tòa được, đồng thời Tòa án cũng đã giao các văn bản tố tụng cho anh S theo trình tự tố tụng của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hÖ h«n nh©n: Chị Nguyễn Thị Phương Th và anh Nguyễn Viết S có tự tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Thanh C , huyện Thanh O , TP H N . Đây là hôn nhân tự nguyện phù hợp với quy định của pháp luật.

Sau khi kết hôn anh chị về chung sống với nhau tại gia đình nhà anh Nguyễn Viết S , trong cuộc sống vợ chồng hòa thuận được những năm đầu đã sinh được 01 con chung nhưng thời gian sau đó anh, chị không hạnh phúc . Nguyên nhân chính là do anh S nghiện ma túy chời bời không chịu làm ăn thường xuyên ở trong tù không có thời gian quan tâm đến chị Th . Chính vì thế anh, chị đã ly thân từ đầu năm 2019 cho đến nay, nay chị Th xét thấy không còn tình cảm với anh S đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn. Xét mâu thuẫn vợ chồng chị Th , anh S khó có thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không thể đạt được Hội đồng xét xử cho chị Th được ly hôn anh S là có căn cứ đúng pháp luật.

Về con chung: Chị Th , anh S có 01con chung: cháu Nguyễn Viết Hoàng A , sinh ngày 23/5/2011. Hiện nay cháu đang ở với chị Th khi ly hôn chị xin được nuôi chau cho đến khi trưởng thành, chị tự nguyện không yêu cầu anh S phải đóng góp phí tổn nuôi con chung vì hiện nay anh S đang chấp hành án tại trại tạm giam số II Công an Thanh phố H N không có điều kiện nuôi con nên tiếp tục giao con chung cho chị Th và lại cháu Hoàng A cũng có nguyện vọng ở với chị Th , Hội đồng xét xử cần chấp nhận theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, công nợ chung và các yêu cầu khác: Chị Nguyễn Thị Phương Th , anh Nguyễn Viết S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét trong bản án này.

¸n phÝ: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 51, 56, Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

Xử: Chị Nguyễn Thị Phương Th được ly hôn anh Nguyễn Viết S

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Phương Th và anh Nguyễn Viết S có 01 con chung là: cháu Nguyễn Viết Hoàng A , sinh ngày 23/5/2011. Tiếp tục giao cho chị Th chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành.

Tạm hoãn việc trợ cấp nuôi con chung cho anh Nguyễn Viết S cho đến khi có yêu cầu hoặc thay đổi khác. Anh S có quyền đi lại thăm hỏi con chung không ai được ngăn cản.

Tài sản chung, tài sản khác, công nợ, công sức: Chị Nguyễn Thị Phương Th và anh Nguyễn Viết S không yêu cầu nên Tòa không xem xét trong bản án này.

Về án phí :Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, pháp lệnh về án phí lệ phí Tòa án. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Toà án buộc Chị Nguyễn Thị Phương Th phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được thể hiện tại Biên lai số: 02826 ngày 27 tháng 02 năm 2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh O , TP H N .

Án xử công khai sơ thẩm. Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án 23 tháng 3 năm 2020.

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân xã nơi bị đơn cư trú.

Cỡ chữ