vanban.org

Bản án 13/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2020/HNGĐ_ST
Ngày: 12/02/2020
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Minh Nhựt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trương Thị Thìn – Cán bộ hưu trí.

2. Bà Trần Thị Hồng Ngọc – Cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ phường Tam Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Thành Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 02 năm 2020, tại Hội trường 02 – Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2115/2019/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 09 năm 2019 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 389/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vi Thị L, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Tổ 01, KP3, P.Trảng Dài, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Anh Lương Văn P, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Tổ 01, KP3, P.Trảng Dài, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

(Chị L có đơn xin vắng mặt, anh P vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Vi Thị L trình bày:

Vào năm 2010, chị và anh Lương Văn P trên cơ sở tự nguyện đã làm thủ tục đăng ký kết hôn. Ngày 01/04/2010, UBND xã Yên Hòa, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 05, quyển số 02/2010 cho chị L và anh P. Từ khi kết hôn vợ chồng thường xuyên cãi nhau, bất hòa quan điểm về nhiều vấn đề trong cuộc sống không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa. Nay chị L xác định không còn tình cảm với anh P, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh P.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Lương Vi Huy H, sinh ngày 22/03/2010. Khi ly hôn chị L đề nghị Tòa án giao cho chị quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh Lương Văn P cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng. Ngày 09/10/2019, chị L có ý kiến thay đổi yêu cầu khởi kiện với nội dung đề nghị trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung khi ly hôn chị L xác định để các bên tự thỏa thuận, nợ chung của vợ chồng khi ly hôn là không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tuy nhiên anh Lương Văn P không thực hiện các nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự, không đến Tòa án làm việc nên không có ý kiến của anh P về việc giải quyết vụ án.

Tòa án đã tiến hành lấy ý kiến của cháu Lương Vi Huy H, sinh ngày 22/03/2010; cháu H có nguyện vọng được chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai:

Về việc tuân thủ quy định của thẩm phán, thư ký, hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của bị đơn là không đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1. Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết:

- Nguyên đơn chị Vi Thị L khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lương Văn P đối chiếu Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xác định quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp ly hôn. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định chị L là nguyên đơn, anh P là bị đơn trong vụ án.

- Anh P có đăng ký tạm trú và đang cư trú tại phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ các điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

2. Về thủ tục tố tụng khác: Nguyên đơn chị L có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh P đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ đến tham dự phiên tòa lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, không có lý do; căn cứ khoản 01, điểm b khoản 02 Điều 227, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

3. Nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2011, chị Vi Thị L và anh Lương Văn P tự nguyện kết hôn và có làm thủ tục đăng ký kết hôn. Ngày 01/04/2010, UBND xã Yên Hòa, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 05, quyển số 02/2010 cho chị L và anh P, đối chiếu các điều 9, 11, 12 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị L xác định Từ khi kết hôn vợ chồng thường xuyên cãi nhau, bất hòa quan điểm về nhiều vấn đề trong cuộc sống không thể tiếp tục chung sống được với nhau. Nay chị L xác định không còn tình cảm với anh P, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh P. Tuy theo xác minh tại địa phương, thì địa phương không nắm được mâu thuẫn giữa chị L và anh P do họ không báo, nhưng qua việc Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, anh P đã không đến Tòa án làm việc, không thực hiện nghĩa vụ của bị đơn, cũng như không có ý kiến gì, từ đó cho thấy anh P có ý bỏ mặc việc Tòa án giải quyết quan hệ hôn nhân giữa hai người. Từ những phân tích trên cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh P đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng không thể hàn gắn đoàn tụ, mục đích hôn nhân đã không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị L là có cơ sở chấp nhận.

- Về con chung: Chị Vi Thị L và anh Lương Văn P có 01 con chung là cháu Lương Vi Huy H, sinh ngày 22/03/2010. Xét thấy, cháu H hiện đang do chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, đồng thời cháu H cũng có nguyện vọng được chị L trực tiếp chăm sóc nên việc giao quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho chị L là có cơ sở chấp nhận. Chị L xác định đủ khả năng nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nên tạm thời anh P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng khi ly hôn, chị L xác định là không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, vì không có ý kiến của anh P nên không thể xác thực về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng, do đó các đương sự được quyền khởi kiện đối với phần này bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

- Về án phí: Chị Vi Thị L phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 68, khoản 4 Điều 147; 227, 266 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 09, 11, 12 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000.

Áp dụng các điều 51, 56, 71, 81, 82, 83, khoản 01 Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vi Thị L đối với bị đơn anh Lương Văn P về việc tranh chấp ly hôn.

Tuyên xử:

Chị Vi Thị L, sinh năm 1990 được ly hôn với anh Lương Văn P, sinh năm 1986.

Về con chung: Giao 01 con chung là cháu Lương Vi Huy H, sinh ngày 22/03/2010 cho chị Vi Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Lương Văn P tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh P được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Trong trường hợp cần thiết một trong các bên có quyền xin thay đổi quyền trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng khi ly hôn các đương sự được quyền khởi kiện bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

Về án phí: Chị Vi Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0000400 ngày 04/09/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Chị L đã nộp đủ án phí theo quy định.

Chị L và anh P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ