- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Nguyễn Ngọc H xin ly hôn với Bà Nguyễn Thị H1"
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT TP. CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2020/HNGĐ–ST Ngày: 04/6/2020 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT – TP CẦN THƠ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Viê êt Thắng
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn H Đức
2. Ông Nguyễn Văn Đông
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quâ ân Thốt Nốt tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Oanh – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt
- thành phố Cần Thơ, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 92/2020/TLST-HNGĐ, ngày 23 tháng 3 năm 2020, về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2020/QĐXXST – HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự :
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm: 1979
Địa chỉ: Khu vực A, phường B, quâ ân C, thành phố Cần Thơ.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1980
Địa chỉ: Khu vực D, phường E, quâ ân Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
(tất cả có mặt tại phiên tòa)
NÔêI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 14 tháng 02 năm 2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Ngọc H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị H1 do quen biết tự tìm hiểu rồi tiến tới hôn nhân vào năm 1997. Giữa vợ chồng có tổ chức đám cưới nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luâ ât. Thời gian đầu cuô âc sống chung của vợ chồng tương đối hạnh phúc. Đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm dẫn đến viê âc thường xuyên cãi vả và ly thân từ tháng 6/2017 cho đến nay. Do thời gian mâu thuẫn kéo dài, giữa hai bên không có biê ân pháp khắc phục, hàn gắn tình cảm dẫn đến cuô âc hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh H khởi kiê ân xin ly hôn với chị Nguyễn Thị H1.
- Về con chung: anh H cho rằng trong thời gian chung sống, giữa vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Kim Ngân, sinh ngày 24/8/1998. Hiê âncháu Ngân đã trưởng thành nên anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông H cho rằng không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa xét xử vụ án bị đơn và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị H1 trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H1 thống nhất với phần trình bày của anh H về mối quan hê â hôn nhân là tự nguyê ân, có tổ chức đám cưới nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luâ ât.
Quá trình chung sống, giữa vợ chồng xảy ra cải vả do bất đồng quan điểm nên đã ly thân từ tháng 6/2017 cho đến nay. Nay chị H1 cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu xin ly hôn của anh H.
- Về con chung: Chị H1 thống nhất với anh H trong thời gian chung sống thì ông, bà có 01 người con chung tên Nguyễn Kim Ngân, sinh ngày 24/8/1998. Hiê ân cháu Ngân đã trưởng thành nên chị H1 cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: chị H1 cho rằng giữa chị và anh H không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại viê ân Viê ân kiểm sát nhân dân quâ ân Thốt Nốt tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: không công nhận anh H, chị H1 là vợ chồng.
Về con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Kim Ngân, sinh ngày 24/8/1998. Hiê ân cháu Ngân đã trưởng thành nên chị H1, anh H cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
NHÂêN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghieân cöùu caùc taøi lieäu, chứng cứ coù trong hoà sô vuï aùn đã ñöôïc thaåm tra taïi phieân toøa vaø caên cöù vaøo keát quả tranh luaän taïi phieân toøa. Hoäi ñoàng xeùt xöû nhaän ñònh:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn anh Nguyễn Ngọc H khởi kiện vụ án tranh chấp ly hôn với bị đơn chị Nguyễn Thị H1. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bô â luâ ât Tố tụng dân sự 2015, vụ án thuô âc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét quan hệ hôn nhân của anh Nguyễn Ngọc H và chị Nguyễn Thị H1 là tự nguyện. Anh, chị tiến tới hôn nhân vào năm 1997, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên không được xem là hôn nhân hợp pháp, anh H có đơn yêu cầu xin ly hôn với chị H1 là không có cơ sở chấp nhận, mà cần áp dụng khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên bố không công nhận anh Nguyễn Ngọc H và chị Nguyễn Thị H1 là vợ chồng mới phù hợp quy định pháp luật.
[3] Xét yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Ngọc H, Hội đồng xét xử nhận thấy: Nguyên nhân là do trong quá trình chung sống giữa anh chị phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng tính tình không hợp, thường bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên dẫn đến cự cải, giữa đôi bên không có sự chia sẻ và thông cảm với nhau để xây dựng hạnh phúc gia đình, nên anh, chị đã chính thức ly thân từ khoảng tháng 6 năm 2017 cho đến nay, qua lời trình bày của anh H, chị H1 cũng thừa nhận, trong hời gian ly thân cả anh và chị cũng không có biện pháp gì hàn gắn hạnh phúc gia đình. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn giữa anh chị đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tại phiên toà hôm nay cả anh H, chị H1 đều xác định không còn tình cảm và cương quyết ly hôn. Tuy nhiên, giữa anh chị chung sống không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không áp dụng quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận cho anh Nguyễn Ngọc H được ly hôn với chị Nguyễn Thị H1 mà cần áp dụng khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên bố không công nhận anh, chị là vợ chồng mới phù hợp quy định pháp luật.
[4] Về vấn đề con chung: Anh, chị thống nhất quá trình chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Kim Ngân, sinh ngày 24/8/1998. Do cháu Ngân đã trưởng thành, có khả năng tự lao đô âng để nuôi sống bản thân. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay anh H, chị H1 không có yêu cầu giải quyết đối với con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Không có ai yêu cầu nên không xem xét. Trường hợp có phát sinh tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì sẽ được giải quyết thành vụ án khác.
[6] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Ngọc H phải chịu án phí là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp.
[7] Xét ý kiến phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có cơ sở.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 5; 28; 35; 39; 147; 207; 227; 271; 273 của Bô â luâ ât Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 9, 14, 15, 53 và 107 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Nghị quyết Số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nô âp, qản lý và sử dụng án phí và lê â phí Tòa án về án phí, lê â phí Tòa án;
Tuyên xử:
Về quan hê â hôn nhân: Không công nhâ ân quan hê â vợ chồng giữa anh Nguyễn Ngọc H và chị Nguyễn Thị H1.
Về con chung: Công nhâ ân anh, chị có 01 người con chung tên Nguyễn Kim Ngân, sinh ngày 24/8/1998. Do đã trưởng thành và các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có ai yêu cầu nên không xem xét. Trường hợp có phát sinh tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì sẽ được giải quyết thành vụ án khác.
Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Ngọc H phải nô âp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số AA/2019/012085 ngày 18 tháng 3 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quâ ân Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ. Công nhâ ânanh H đã nô âp xong án phí.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày tiếp theo ngày tuyên án. Để được Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận Thốt Nốt; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phan Việt Thắng |