vanban.org

Bản án 13/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho anh Lê Văn C được ly hôn chị Trịnh Thị T.

Về nuôi con chung: Giao cháu Lê Thị Yến N sinh ngày 10/3/2013 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận ý kiến của anh C, buộc anh C cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng) cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 7 năm 2020. Anh C có quyền đi lại,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho anh Lê Văn C được ly hôn chị Trịnh Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THIỆU HÓA
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 24 - 6 - 2020
V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Đạt –Thẩm phán.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Ngọc Hưng.

2. Ông Lê Dũng Tấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Tố Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh - KSV.

Ngày 24 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ thục thông thường vụ án thụ lý số: 177/2019/TLST - HNGĐ ngày 09/12/2019 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 11/5/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2020/QĐST-HNGĐ ngày 25/5/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Lê Văn C, sinh năm 1973;

Địa chỉ: Thôn TT, xã TP, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Anh C vắng

mặt tại phiên tòa (Có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Chị Trịnh Thị T, sinh năm 1980;

Địa chỉ: Thôn VĐ, xã TP, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Chị T vắng

mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 17/10/2019, bản tự khai ngày 17/10/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Lê Văn C trình bày:

Giữa nguyên đơn và bị đơn là chị Trịnh Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TP, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 25/6/2012. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp về tính tình, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xúc phạm nhau, từ năm 2013 vợ chồng đã ly thân. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được, anh C đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trịnh Thị T.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Lê Thị Yến N, sinh ngày 10/3/2013, hiện đang ở với chị T; Ly hôn anh đề nghị Tòa án giao cháu N cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh C cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T mỗi tháng 1.000.000đ(Một triệu đồng).

Về tài sản: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã thông báo triệu tập hợp lệ chị Trịnh Thị T Nều lần đến Tòa án làm việc nhưng chị T không đến nên không có bản khai, không có ý kiến của chị T.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đã phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Trong quá trình từ khi thụ lý giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Căn cứ quy định của pháp luật, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, Nguyên đơn phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy;

[1] Về tố tụng: Chị Trịnh Thị T đã được thông báo hợp lệ đến phiên hòa giải Nều lần nhưng chị T không đến để tham gia phiên hòa giải, đây là trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Trịnh Thị T đã được thông báo và triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, anh Lê Văn C có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt do đó căn cứ vào điển c khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh C và chị T.

. Về hôn nhân: anh Lê Văn C và chị Trịnh Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và không vi phạm các điều cấm của luật hôn nhân gia đình như vậy là hôn nhân hợp pháp. Thấy rằng quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2013 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp tính tình như ý kiến anh C khai; Thực tế theo xác minh thì anh C và chị T đã ly thân từ năm 2013 chị T bỏ về bên ngoại sinh sống. Mặc dù Tòa án đã thông báo tiến hành phiên hòa giải 02 lần và 02 lần mở phiên tòa nhưng chị T vắng mặt, điều đó chứng tỏ chị T cũng không thiết tha, níu kéo hôn nhân; Điều này chứng tỏ cuộc sống vợ chồng đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ khoản 1 điều 56 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho anh C được ly hôn chị T là phù hợp.

. Về con chung: Anh C khai nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Thị Yến N sinh ngày 10/3/2013, anh C xuất trình cho Tòa án bản sao trích lục khai sinh của cháu Lê Thị Yến N có ghi họ tên mẹ là chị Trịnh Thị T, họ tên bố là Lê Văn C; Như vậy đủ cơ sở khẳng định các cháu Lê Thị Yến N là con chung của anh C và chị T. Hiện cháu N đang ở với chị T, cháu N có nguyện vọng được ở với chị T, nên chấp nhận yêu cầu của anh C giao cháu N cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp; Nuôi con cái là trách Nệm của cha mẹ, nên ghi nhận ý kiến của anh C cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng) là phù hợp.

. Về tài sản và công nợ: Các đương sự không yêu cầu nên miễn xét. Trong vụ án này, Hội đồng xét xử không biết được nội dung yêu cầu của chị T đối với phần tài sản giữa chị T và anh C nếu có tài sản sẽ tự bàn bạc thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được sẽ giải quyết bằng vụ án khác khi các bên có đơn khởi kiện.

. Về án phí: Anh C là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên anh C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, B v

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1, Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 BLTTDS; Điều 6, Điều 9; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử:

1. Về hôn nhân: Cho anh Lê Văn C được ly hôn chị Trịnh Thị T.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Lê Thị Yến N sinh ngày 10/3/2013 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận ý kiến của anh C, buộc anh C cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng) cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 7 năm 2020.

Anh C có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Kể từ khi chị T có đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền cấp dưỡng, nếu chưa thi hành án, hàng tháng anh C phải chịu thêm khoản tiền lãi trên số tiền và thời gian chưa thi hành án, mức lãi suất chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự hoặc khi pháp luật có quy định khác.

3. Về án phí: Anh C phải chịu tiền án phí sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) và án phí cấp dưỡng nuôi con chung là 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2017/0005613 ngày 09/12/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thiệu Hóa, anh C còn phải nộp tiếp 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) án phí.

Tr êng hîp b¶n ¸n ® îc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i ®iÒu 2 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù th× ng êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ c ìng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t¹i c¸c ®iÒu 6, 7, 7a, 7b vµ 9 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù; thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo ®iÒu 30 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Anh C, chị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ