vanban.org

Bản án 13/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị G.

a. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị G được ly hôn với ông Vương Văn Thanh C. b. Về nuôi con chung: Giao con chung Vương Thị Tr, sinh ngày 21/9/2005 và Vương Quốc Ph, sinh ngày 23/02/2008 cho bà Nguyễn Thị G trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Bà G không yêu cầu ông C cấp dưỡng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị G"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị G.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự đưa
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NÔ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 13/2020/HNGĐ-ST
Ngày 07-9- 2020
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tím.

- Các Hội thẩm nhân dân: Hồ Quang Hiển và ông Nguyễn Quang Châu.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Bun, cán bộ TAND huyện Krông Nô.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên tòa: Ông Nông Quốc Hùng, chức vụ: Kiểm sát viên.

Mở phiên tòa ngày 07 tháng 9 năm 2020, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Krông Nô tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 91/2020/TLST-HNGĐ, ngày 04/6/2020, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2020/QĐXXST- HNGD, ngày 05/8/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2020/QĐST- HNGĐ, ngày 21/8/2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1982. Có mặt.

Bị đơn: Ông Vương Văn Thanh C, sinh năm 1974. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: số nhà 82, thôn T, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/02/2020 (nộp trực tiếp tại Tòa án ngày 28/5/2020) quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị G trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị G và ông Vương Văn Thanh C chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1999, đến năm 2003 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nâm Nung. Bà G và ông C chung sống hạnh phúc đến năm 2005 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông C thường xuyên đánh đập vợ con, không quan tâm chăm sóc gia đình, thường xuyên nhậu nhẹt, say sỉn rồi có quan hệ yêu đương với người phụ nữ khác. Bà G nhiều lần bỏ qua và khuyên nhủ ông C nhưng không được, đến nay mâu thuẫn đã trầm trọng, kéo dài, bà G không thể chịu đựng được nữa. Từ đầu năm 2020 ông C đã bỏ nhà đi, không còn quan tâm tới gia đình nữa. Vì những nguyên nhân trên nên bà G khởi kiện ly hôn với ông C vì ông bà không thể kéo dài mối quan hệ hôn nhân, tình cảm yêu thương của bà G dành cho ông C không còn.

Về yêu cầu nuôi con chung: Bà G có nguyện vọng trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Vương Thị Tr, sinh ngày 21/9/2005 và Vương Quốc Ph, sinh ngày 23/02/2008 đến tuổi trưởng thành. Bà G không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.

Đối với con chung Vương Thị Kiều Tr, sinh ngày 13/8/2000 đã trưởng thành, không bị mất năng lực hành vi dân sự, không thuộc trường hợp không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình nên bà G không yêu cầu giải quyết.

Về yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung: Bà G không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án ông Vương Văn Thanh C vắng mặt tại địa phương. Ngày 19/6/2020, Tòa án nhân dân huyện Krông Nô đã ban hành Quyết định số 05/2020/QĐ-TA về việc đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng cho ông C biết về nội dung khởi kiện của bà G. Tại phiên tòa, ông C vắng mặt không có lý do.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa; tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các trình tự thủ tục quy định; Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị G được ly hôn với ông Vương Văn Thanh C.

Về yêu cầu nuôi con chung: Giao con chung Vương Thị Tr, sinh ngày 21/9/2005 và Vương Quốc Ph, sinh ngày 23/02/2008 cho bà Nguyễn Thị G trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Bà G không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Đối với con chung Vương Thị Kiều Tr, sinh ngày 13/8/2000 đã trưởng thành, không bị mất năng lực hành vi dân sự, không thuộc trường hợp không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình nên bà G không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung: Bà G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập giải quyết.

Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Bà Nguyễn Thị G có đơn đề nghị thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng vì vậy bà G phải chịu lệ phí theo quy định tại Điều 180 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị G chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả thẩm tra công khai các tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị G khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, yêu cầu nuôi con chung nên quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn là ông Vương Văn Thanh C có nơi cư trú tại thôn T, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyên Krông Nô theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về tố tụng: Tại biên bản xác minh ngày 04/6/2020, tại thôn T, xã N thể hiện: Ông C đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã N, huyện K, do mâu thuẫn vợ chồng nên ông C thường xuyên vắng mặt tại địa phương, từ đầu năm 2020 đến nay ông C đi khỏi địa phương, gia đình và chính quyền địa phương không biết ông C hiện nay đang sinh sống và làm việc ở đâu. Ngày 19/6/2020, Tòa án nhân dân huyện Krông Nô đã ban hành Quyết định số 05/2020/QĐ-TA về việc đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng cho ông C biết về nội dung khởi kiện của bà G. Tại phiên tòa, ông C vắng mặt không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông C.

Về nội dung vụ án:

. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị G và ông Vương Văn Thanh C chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1999, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nâm Nung, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông vào ngày 25/12/2003. Đây là hôn nhân hợp pháp, kết hôn đúng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.

Tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình quy định về tình nghĩa vợ chồng:

“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.

Bà G cho rằng vợ chồng bà thường xuyên mâu thuẫn ông C thường xuyên đánh đập vợ con, không quan tâm chăm sóc gia đình, thường xuyên nhậu nhẹt, say sỉn rồi có quan hệ yêu đương với người phụ nữ khác. Nhiều lần bà bỏ qua cho ông C và khuyên nhủ ông C quay về chung sống với bà cùng nhau nuôi dạy con cái nhưng ông C thường xuyên bỏ đi, từ đầu năm 2020 đến nay ông C đã không về nhà.

Tại biên bản xác minh ngày 04/6/2020 tại thôn T, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông thể hiện ông C và bà G mâu thuẫn với nhau do ông C có quan hệ yêu đương với người phụ nữ khác, bỏ bê vợ con, không quan tâm tới gia đình, tình cảm vợ chồng xa cách.

Hội đồng xét xử xét thấy, vợ chồng chung sống có hạnh phúc phải dựa trên sự yêu thương, tôn trọng, phải chung thủy với nhau, cùng nhau chung sống với nhau để cùng nhau quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, phải có sự hòa hợp, chia sẻ với nhau mọi vấn đề trong cuộc sống, việc ông C bỏ bê gia đình, không quan tâm, chăm sóc, chia sẻ với bà G trong cuộc sống và nuôi dạy con cái, ông C lại yêu đương với người phụ nữ khác thể hiện sự không chung thủy, không yêu thương, tôn trọng bà G khiến cho tình cảm vợ chồng phai nhạt, xa cách, không có khả năng hàn gắn hạnh phúc, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trần trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được là vi phạm quy định về tình nghĩa vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Vì vậy cần căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà G, cho bà Nguyễn Thị G được ly hôn với ông Vương Văn Thanh C.

. Về yêu cầu con chung: Tại biên bản ghi nhận ý kiến của con chưa thành niên ngày 26/6/2020, con chung Vương Thị Tr, sinh ngày 21/9/2005 và Vương Quốc Ph, sinh ngày 23/02/2008 có nguyện vọng được ở cùng với bà Nguyễn Thị G.

Khoản 1, khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”

Hội đồng xét xử xét thấy bà G có nguyện vọng trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung đến tuổi trưởng thành. Các con chung của ông bà lại mong muốn được ở cùng với bà G. Ông C thường xuyên bỏ nhà đi, không quan tâm, chăm sóc tới gia đình và con cái, vì vậy việc giao con chung cho bà G trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sẽ đảm bảo hơn và cũng là phù hợp với nguyện vọng muốn được ở cùng mẹ của các cháu.

Vì vậy cần giao con chung Vương Thị Tr, sinh ngày 21/9/2005 và Vương Quốc Ph, sinh ngày 23/02/2008 cho bà Nguyễn Thị G trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Bà G không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Đối với con chung Vương Thị Kiều Tr, sinh ngày 13/8/2000 đã trưởng thành, không bị mất năng lực hành vi dân sự, không thuộc trường hợp “không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình” nên bà G không yêu cầu giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Sau khi ly hôn ông Vương Văn Thanh C và bà Nguyễn Thị G có các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung theo quy định tại các Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

. Về yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung: Bà G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

. Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Ngày 19/6/2020, bà Nguyễn Thị G có đơn đề nghị thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về nội dung khởi kiện của bà đối với ông Vương Văn Thanh C. Vì vậy bà G phải chịu lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng với số tiền 3.525.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 3.525.000 đồng mà bà G đã nộp ngày 19/6/2020 tại Tòa án nhân dân huyện Krông Nô; Phiếu thu ngày 24/6/2020 tại Cơ quan thường trú Đài tiếng nói Việt Nam khu vực Tây Nguyên; Hóa đơn giá trị gia tăng ngày 15/7/2020 của Công ty cổ phần thông tin truyền thông Công lý.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án; Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 180, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị G.

a. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị G được ly hôn với ông Vương Văn Thanh C.

b. Về nuôi con chung: Giao con chung Vương Thị Tr, sinh ngày 21/9/2005 và Vương Quốc Ph, sinh ngày 23/02/2008 cho bà Nguyễn Thị G trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Bà G không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.

Đối với con chung Vương Thị Kiều Tr, sinh ngày 13/8/2000 đã trưởng thành, không bị mất năng lực hành vi dân sự, không thuộc trường hợp “không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình” nên bà G không yêu cầu giải quyết.

Sau khi ly hôn ông Vương Văn Thanh C và bà Nguyễn Thị G có các quyền, nghĩa vụ sau:

- Quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chưa thành niên theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình.

- Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân gia đình.

- Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.

- Quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.

- Quyền yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình.

c. Về yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung: Bà G không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Bà G phải chịu lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng với số tiền 3.525.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 3.525.000 đồng mà bà G đã nộp ngày 19/6/2020 tại Tòa án nhân dân huyện Krông Nô; Phiếu thu ngày 24/6/2020 tại Cơ quan thường trú Đài tiếng nói Việt Nam khu vực Tây Nguyên; Hóa đơn giá trị gia tăng ngày 15/7/2020 của Công ty cổ phần thông tin truyền thông Công lý.

3.Về án phí: Bà Nguyễn Thị G phải chịu số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà bà Nguyễn Thị G đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông theo biên lai số 0003000/BL-THA, ngày 28/5/2020.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án; Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ