vanban.org

Bản án 13/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H B Byă.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị H B Byă và anh Y N HĐơk. Về nuôi con chung: Giao con chung Y Đ Byă, sinh ngày 23/4/2012 và H S Byă, sinh ngày 16/12/2014 cho chị H B Byă trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị H B Byă ly hôn với anh Y N HĐơk"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H B Byă.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG ANA
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 28 - 7 - 2020
V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ngọc.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Văn Loan;

2. Bà Bùi Thị Thiềm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Bảo Thụy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhất - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2020 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Krông Ana xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 46/2020/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2020 về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị H B Byă, sinh năm 1985. Vắng mặt. Có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Buôn K, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

2. Bị đơn: Anh Y N HĐơk, sinh năm 1982. Vắng mặt. Có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Buôn K, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 09/3/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị H B Byă trình bày:

Chị và anh Y N HĐơk tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2001, đến ngày 09/5/2014 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, việc chị và anh Y N HĐơk chung sống và kết hôn với nhau là hoàn toàn tự nguyện, quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Y N HĐơk thường xuyên uống rượu, về nhà chửi bới, đánh đập chị và các con, không chăm lo cho cuộc sống gia đình, sự việc xảy ra đã được hai bên gia đình và chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần nhưng anh Y N HĐơk vẫn không thay đổi, làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Chị và anh Y N HĐơk đã sống ly thân từ tháng 5/2019 đến nay. Nay chị nhận thấy tình cảm giữa chị và anh Y N HĐơk không còn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, chị và anh Y N HĐơk không còn chung sống với nhau đã lâu, nay không thể quay về chung sống với nhau được nữa, nên chị yêu cầu Toà án nhân dân huyện Krông Ana giải quyết cho chị ly hôn với anh Y N HĐơk.

Về con chung: Trong thời gian chung sống chị H B Byă và anh Y N HĐơk có có 03 con chung: Y H Byă, sinh ngày 01/3/2002, Y Đ Byă, sinh ngày 23/4/2012 và H S Byă, sinh ngày 16/12/2014.

Khi ly hôn chị H B Byă yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chưa thành niên là Y Đ Byă và H S Byă, chị H B Byă không yêu cầu anh Y N cấp dưỡng nuôi con.

Con Y H Byă hiện nay đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị H B Byă và anh Y N HĐơk tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị H B Byă và anh Y N HĐơk hiện nay không nợ ai khoản nợ nào.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 10/6/2020 bị đơn anh Y N HĐơk trình bày:

Anh Y N HĐơk và chị H B Byă chung sống với nhau từ năm 2001, đến ngày 09/5/2014 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, việc anh Y N HĐơk và chị H B Byă chung sống và kết hôn với nhau là tự nguyện. Quá trình chung sống, anh chị hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hòa hợp trong cuộc sống, tính cách vợ chồng không hợp nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, nay chị H B Byă yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Y N HĐơk, anh Y N HĐơk đồng ý ly hôn với chị H B Byă.

Về con chung: Trong thời gian chung sống anh Y N HĐơk và chị H B Byă có 03 con chung: Y H Byă, sinh ngày 01/3/2002, Y Đ Byă, sinh ngày 23/4/2012 và H S Byă, sinh ngày 16/12/2014.

Khi ly hôn anh Y N HĐơk có nguyện vọng giao 02 con chung chưa thành niên là Y Đ Byă và H S Byă cho chị H B Byă nuôi dưỡng. Còn Y H Byă hiện nay đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Y N HĐơk và chị H B Byă tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Hiện nay vợ chồng anh chị không nợ ai khoản nợ nào.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và về việc giải quyết vụ án:

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự, thông báo về việc thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự đúng quy định của pháp luật.

- Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Chị H B Byă và anh Y N HĐơk thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các điều 56, 81 của Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị H B Byă, cho chị H B Byă được ly hôn với anh Y N HĐơk.

Về con chung chưa thành niên: Giao cháu Y Đ Byă, sinh ngày 23/4/2012 và H S Byă, sinh ngày 16/12/2014 cho chị H B Byă trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H B Byă không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Các đương sự tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Các đương sự xác định không có nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Miễn toàn án phí dân sự sơ thẩm về tranh chấp hôn nhân và gia đình cho chị H B Byă.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị H B Byă có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Y N HĐơk và yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Đây là quan hệ tranh chấp “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn anh Y N HĐơk cư trú tại: Buôn K, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk.

Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho chị H B Byă và anh Y N HĐơk.

Chị H B Byă và anh Y N HĐơk có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về các yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H B Byă và anh Y N HĐơk tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2001, đến ngày 09/5/2014 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị H B Byă và anh Y N HĐơk chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Y N HĐơk không chăm lo làm ăn, thường xuyên uống rượu về nhà chửi bới, đánh đập vợ con. Chị H B Byă và anh Y N HĐơk đã sống ly thân từ tháng 5/2019 đến nay. Qua xác minh tại Buôn K, xã D, huyện K, nơi anh Y N HĐơk cư trú, thể hiện vợ chồng chị H B Byă và anh Y N HĐơk xảy ra mâu thuẫn từ năm 2019, chị H B Byă và anh Y N HĐơk đã sống ly thân từ cuối năm 2019 đến nay.

Hội đồng xét xử xét thấy giữa chị H B Byă và anh Y N HĐơk không còn tình cảm, thương yêu, tôn trọng nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H B Byă, cho chị H B Byă được ly hôn anh Y N HĐơk là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị H B Byă và anh Y N HĐơk có 03 con chung: Y H Byă, sinh ngày 01/3/2002, Y Đ Byă, sinh ngày 23/4/2012 và H S Byă, sinh ngày 16/12/2014.

Khi ly hôn chị H B Byă yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung: Y Đ Byă và H S Byă. Xét điều kiện, hoàn cảnh của chị H B Byă và nguyện vọng của cháu Y Đ Byă. Căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, c ng như nghĩa vụ của cha m đối với con chưa thành niên, từ trước đến nay cháu Y Đ Byă và H S Byă ở với chị H B Byă tại Buôn K, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk có nơi ở, sinh hoạt, học tập ổn định. Đồng thời chị H B Byă có công việc và thu nhập ổn định. Căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao cháu Y Đ Byă và H S Byă cho chị H B Byă nuôi dưỡng là phù hợp. Con chung Y H Byă hiện nay đã đủ 18 tuổi, phát triển bình thường và có khả năng lao động, tự nuôi sống bản thân nên vấn đề nuôi dưỡng, cấp dưỡng không xem xét giải quyết.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H B Byă không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Anh Y N HĐơk có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Y N HĐơk thực hiện quyền này.

Về tài sản chung: Chị H B Byă và anh Y N HĐơk tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị H B Byă và anh Y N HĐơk xác định hiện nay không nợ ai khoản nợ nào.

Nên về tài sản và nợ chung của vợ chồng chị H B Byă và anh Y N HĐơk Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về án phí: Chị H B Byă là người dân tộc tiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn đề nghị miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình cho chị H B Byă, anh Y N HĐơk không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 56; 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H B Byă.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị H B Byă và anh Y N HĐơk.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung Y Đ Byă, sinh ngày 23/4/2012 và H S Byă, sinh ngày 16/12/2014 cho chị H B Byă trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H B Byă không yêu cầu nên không giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Đối với con chung Y H Byă hiện nay đã đủ 18 tuổi, phát triển bình thường và có khả năng lao động, tự nuôi sống bản thân nên vấn đề nuôi dưỡng, cấp dưỡng không giải quyết.

3. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình cho chị H B Byă.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Cỡ chữ