vanban.org

Bản án 13/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Ngọc H. Chị Hoàng Ngọc H được ly hôn anh Trần Văn Đ.

Giao con chung Trần Gia B- sinh ngày 02/4/2016 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung thành niên (Đủ 18 tuổi). Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Đ có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Về án phí: Chị Hoàng Ngọc H phải nộp 300.000đồng (Ba t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Hoàng Ngọc Huyền ly hôn anh Trần Văn Điển"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Ngọc H. Chị Hoàng Ngọc H được ly hôn anh Trần Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13 /2020/HNGĐ-ST.
Ngày: 21-01-2020.
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia
đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Duyên

Các hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thơ

Ông Trần Xuân Giới

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cảnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Huyền- Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 01 năm 2020 tại Tòa án nhân dân thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 146/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2019 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Ngọc H. Sinh năm 1998.

Trú tại: Thôn B, xã L, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Văn Đ. Sinh năm 1994.

Trú tại: Thôn B, xã L, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn chị Hoàng Ngọc H trình bày: Chị kết hôn với anh Trần Văn Đ vào năm 2016 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã L, thành phố H, Quảng Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 4 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do anh Đ cờ bạc, nợ nần, không quan tâm đến vợ con. Chị và hai bên gia đình đã khuyên can, phân tích nhiều lần nhưng anh Đ không sửa chữa. Anh Đ đã nhiều lần phải trốn tránh khi chủ nợ đến đòi, bản thân chị cũng bị xáo trộn, ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống do việc nợ nần của chồng. Chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Trần Văn Đ.

Về con chung: Chị H và anh Đ có một con chung là Trần Gia B sinh ngày 02/4/2016. Chị H đề nghị được nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn anh Trần Văn Đ không có mặt theo các giấy triệu tập của Tòa án và cũng không có quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của chị H. Kết quả xác minh tại nơi cư trú xác định: anh Đ hiện sống chung với bố mẹ đẻ là ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị T tại thôn B, xã L,thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Mâu thuẫn của vợ chồng là do kinh tế không ổn định, nợ nần dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn, không còn ở chung với nhau. Từ khoảng tháng 4/2018 chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở đến nay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Hôn nhân giữa chị Hoàng Ngọc H và anh Trần Văn Đ là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và B vệ. Quá trình sống chung vợ chồng xảy ra mâu thuẫn từ đầu năm 2018 do bất đồng quan điểm, mâu thuẫn về kinh tế, nợ nần, đã được chính quyền nơi cư trú xác nhận. Vợ chồng đã có thời gian ly thân từ tháng 4/2018 đến nay, không còn quan tâm, chia sẻ với nhau. Mặt khác, anh Đ cố tình không chấp hành theo các giấy triệu tập của Tòa án, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị H nên không có căn cứ để xem xét. Như vậy, mâu thuẫn của vợ chồng chị H, anh Đ không thể khắc phục được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Ngọc H.

. Về con chung: Chị H có nguyện vọng được nuôi con, có thu nhập ổn định đảm bảo điều kiện nuôi con, trong khi anh Đ không có quan điểm gì đối với yêu cầu nuôi con chung của chị H nên cần giao cho chị H nuôi con là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

.Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đề cập.

. Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H có quan điểm: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, thẩm phán và hội đồng xét xử đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự

Về quan điểm giải quyết vụ án, đại diện VKS đề nghị: Có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung của nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 điều 227, khoản 4 điều 147 BLTTDS; khoản 1 điều 56, điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Ngọc H. Chị Hoàng Ngọc H được ly hôn anh Trần Văn Đ.

Giao con chung Trần Gia B- sinh ngày 02/4/2016 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung thành niên (Đủ 18 tuổi). Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Đ có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Về án phí: Chị Hoàng Ngọc H phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai số 0002402 ngày 05/12/2019 của Thi hành án dân sự huyện H (nay là thành phố H).

Chị Hoàng Ngọc H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Trần Văn Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ