vanban.org

Bản án 13/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Văn S. Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Ngô Văn S ly hôn với bà Nguyễn Thị H. Giấy chứng nhận kết hôn số 37 ngày 15/02/2011 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh An Giang cấp, không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Ngô Văn S khởi kiện vụ án dân sự tranh chấp về ly hôn với bà Nguyễn Thị H"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số:13/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 18-3-2020
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Tấn Khoa;

2. Ông Ngô Văn Mừng.

- Thư ký phiên tòa: bà Võ Thị Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Trong ngày 18 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 863/2019/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2020/QĐXX-ST ngày 07 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Ngô Văn S, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; Có mặt.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1988, địa chỉ cư trú: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn Ngô Văn S trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị H do mai mối tiến tới hôn nhân và chung sống với nhau vào năm 2011, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật vào năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã H. Quá trình chung sống hạnh phúc đến tháng 10/2019 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẩn, bất đồng quan điểm, hay cự cãi, lối sống không hợp, tính tình không hợp. Vợ chồng đã không còn sống chung với nhau, nhận thấy hiện nay không còn tình cảm với nhau nên ông S xin ly hôn với bà Nguyễn Thị H. Về con chung,về tài sản chung và về nợ chung: Không có. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nguyễn Thị H đã được tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên hòa giải nhưng không gửi văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: [1.1] Ông Ngô Văn S khởi kiện vụ án dân sự tranh chấp về ly hôn với bà Nguyễn Thị H. Bà H có nơi cư trú ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. [1.2] Bà Nguyễn Thị H đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Về nội dung: [2.1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa ông Ngô Văn S và bà Nguyễn Thị H là hợp pháp vì ông bà có đăng ký kết hôn. Trong cuộc sống chung vợ chồng ông bà không được hạnh phúc, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, hay cự cãi, lối sống không hợp, tính tình không hợp. Trong quá trình giải quyết bà H đã được tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không gửi văn bản ghi ý kiến của mình về các yêu cầu khởi kiện của ông S và vắng mặt không lý do. Xét thấy, Ông S yêu cầu ly hôn lý do trong cuộc sống chung vợ chồng ông bà không được hạnh phúc nên đã không còn sống chung với nhau đến nay là một khoảng thời gian dài, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông S. [2.2] Về quan hệ con chung, về quan hệ tài sản và về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến. [3] Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Các Điều 28, 35, 39, 147, 227 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Văn S.

1) Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Ngô Văn S ly hôn với bà Nguyễn Thị H. Giấy chứng nhận kết hôn số 37 ngày 15/02/2011 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh An Giang cấp, không còn giá trị pháp lý.

2) Về quan hệ con chung, về quan hệ tài sản chung và về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.

3) Về án phí: Ông Ngô Văn S phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007634 ngày 12/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Ông Ngô Văn S đã nộp đủ.

4) Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt thì thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ