- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bệnh tật, không có con — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn chị H và anh S"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn anh Đinh Văn S.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2020/HNGĐ-ST Ngày 17-3-2020 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Đình Ngát
Bà Khúc Thị Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngà - Thư ký Toà án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện K xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 71/2020/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 01 năm 2020 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2020/QĐXX-ST ngày 20 tháng 02 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2020/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1987; địa chỉ cư trú: Số 78 đường T, tổ L 6, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng: Có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Anh Đinh Văn S, sinh năm 1984; địa chỉ cư trú: Thôn K1, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng: Vắng mặt nhưng đã được triệu tập hợp lệ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn ngày 06/01/2020 và bản tự khai ngày 17/01/2020 chị H trình bày: Chị tự nguyện kết hôn với anh Đinh Văn S thời gian năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K. Nói chung vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng thời gian ngắn 06 tháng. Tuy nhiên trong quá trình sống chung mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ cuối năm 2018 do phong cách sống không còn phù hợp, anh S sống không chung thủy, không thống nhất trong làm ăn kinh tế. Vợ chồng thường xuyên xảy ra đánh cãi nhau. Đến tháng 06 năm 2019 chị đã gửi đơn xin ly hôn anh S tại Tòa án nhân dân huyện K. Sau khi Tòa án giải thích về quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, được gia đình, địa phương khuyên giải để vợ chồng trở lại đoàn tụ, chị đã tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn anh S. Tòa án đã ra Q uyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 16/2019/QĐST-HNGĐ ngày 06/9/2019; nhưng tình cảm không được cải thiện, mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, chị bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ đầu năm 2020 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; chị xin ly hôn anh S.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh S vắng mặt, nhưng theo lời trình bày và yêu cầu của chị H. Tòa án đã xác minh và tống đạt trực tiếp giấy triệu tập; thông báo thụ lý vụ án; thông báo về việc thu thập được tài liệu, chứng cứ; thông báo về phiên họp và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp của Tòa án cho trưởng thôn K1, xã T và chính quyền địa phương để giao lại các văn bản tố tụng trên. Anh S đã nhận đầy đủ các văn bản tố tụng trên nhưng không đến Tòa án và Ủy ban nhân dân xã T để trình bày lời khai; tham gia phiên họp và hòa giải; từ chối khai báo, vắng mặt không có lý do chính đáng. Sau đó Tòa án đã tống đạt trực tiếp và hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho trưởng thôn K1 và Ủy ban nhân dân xã T để giao lại cho anh S. Anh S vẫn vắng mặt tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
Nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
Bị đơn không chấp hành đầy đủ nghĩa vụ quy định tại khoản 15, 16 Điều 70, khoản 1 Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
Về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét công khai và kết quả tranh tụng tại phiên tòa xét thấy:
1. Về tố tụng: Anh S là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
2. Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh S tự nguyện kết hôn năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do phong cách sống không còn phù hợp, vợ chồng nghi ngờ nhau sống không chung thủy, không thống nhất trong làm ăn kinh tế nên thường xuyên xảy ra đánh cãi nhau. Đến tháng 06 năm 2019 chị H đã gửi đơn xin ly hôn anh S tại Tòa án nhân dân huyện K. Sau khi Tòa án giải thích về quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, được gia đình, địa phương khuyên giải để vợ chồng trở lại đoàn tụ, chị H đã tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn anh S. Tòa án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 16/2019/QĐST-HNGĐ ngày 06/9/2019; nhưng tình cảm không được cải thiện, mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, chị bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ đầu năm 2020 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Nay chị H xin ly hôn anh S là có cơ sở chấp nhận, nên xử cho chị H được ly hôn anh S là phù hợp. Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho chị Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn anh Đinh Văn S.
3. Về con chung: Anh chị không có con chung nên không xem xét giải quyết.
4. Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Anh S là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Chị H tự nguyện kết hôn với anh S năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K. Đánh giá chung vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 06 tháng. Song trong thời gian sống chung mâu thuẫn phát sinh từ cuối năm 2018 do phong cách sống không còn phù hợp, vợ chồng nghi ngờ nhau sống không chung thủy, không thống nhất trong làm ăn kinh tế nên thường xuyên xảy ra đánh cãi nhau. Đến tháng 06 năm 2019 chị H đã gửi đơn xin ly hôn anh S tại Tòa án nhân dân huyện K. Sau khi Tòa án giải thích về quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, được gia đình, địa phương khuyên giải để vợ chồng trở lại đoàn tụ, chị H đã tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn anh S. Tòa án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 16/2019/QĐST-HNGĐ ngày 06/9/2019; nhưng tình cảm không được cải thiện, mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, chị bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ đầu năm 2020 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống chung. Nay chị H xin ly hôn anh S là có cơ sở chấp nhận; nên xử cho chị H được ly hôn anh S là phù hợp.
Về con chung: Anh chị không có con chung nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh H được ly hôn anh Đinh Văn S.
2. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: AA.0008828 ngày 14 tháng 01 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K. Chị H đã chịu đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Chị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TANDTP Hải Phòng; - VKSND huyện K; - Chi cục THADS huyện K; - Các đương sự; - UBND xã T; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu án văn. Vụ H - S bản sao chứng minh nhân dân, 02 bản sao sổ hộ khẩu gia đình, 01 bản sao trích lục kết hôn, quyết định đình chỉ số 16/2019, bản tự khai, đơn yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu chứng cứ. Chủ tọa công bố tài liệu, chứng cứ của vụ án: - Đơn đề nghị thu thập tài liệu chứng cứ của chị H ngày 31/01/2020 trạng hôn nhân của vợ chồng. 06/02/2020 ngày 18/02/2020 cho anh S qua trưởng thôn K1, T. HỘI THẨM NHÂN DÂN Bùi Đình Ngát Đặng Thị Đôi | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thanh Huyền Về tài liệu chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án: Tôi đã giao nộp cho Tòa án: 01 - Biên bản xác minh tại UBND xã T và thôn K1 ngày 05/02/2020 về tình - Thông báo về việc thu thập được tài liệu, chứng cứ số 49 ngày - Biên bản phiên họp kiểm tra, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải - Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra chứng cứ số 56 ngày 19/02/2020 - Biên bản xác minh về việc nhận và tống đạt các văn bản tố tụng dân sự CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thanh H |