vanban.org

Bản án 13/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Mai Xuân H"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK R’LẤP
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2020/HNGĐ-ST
Ngày 22 - 6 - 2020
“Về việc ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khiêm

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thuỳ và ông Nguyễn Như Tạ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Nhu là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Phan Xuân Hoàng – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 6 năm 2020 tại phòng xét xử, Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 10/2020/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2020, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2020. Giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Mai Xuân H, sinh năm 1959;

Nơi cư trú: Thôn 13, xã S, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1968

Nơi cư trú: Thôn 13, xã S, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Mai Xuân H trình bày:

Tôi và bà Nguyễn Thị V về chung sống với nhau từ năm 2002, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông. Trong quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp nhau nên thường xuyên cãi vá, chửi bới nhau làm cuộc sống chung vợ chồng không có hạnh phúc. Từ năm 2009 đến nay bà V đã bỏ đi khỏi địa phương tôi không biết bà V đi đâu, làm gì và hiện nay đang ở đâu. Nay, tôi nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với bà V.

Về con chung: Có 01 con chung là Mai Thành L, sinh ngày 12/9/2003, khi bà V bỏ đi đã mang theo con Mai Thành L theo nên ông đồng ý để bà V nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành.

Về tài sản chung, nợ chung và cấp dưỡng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, thiết lập hồ sơ và thu thập chứng cứ đúng trình tự, đưa vụ án ra xét xử đúng thời hạn. Như vậy, về tố tụng Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Mai Xuân H.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Bà V đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2009 đến nay. Ngày 03-9-2019, Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp đã ra quyết định giải quyết việc dân sự số: 10/2019/QĐST-DS tuyên bố bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1968, nơi cư trú cuối cùng: Thôn 13, xã S, huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông mất tích. Tại thời điểm Tòa án giải quyết vụ án bà V vẫn không có mặt tại địa phương, Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật Tố tụng Dân sự đối với bà V. Quá trình giải quyết nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2]. Về nội dung: Ông Mai Xuân H và bà Nguyễn Thị V tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2002 tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông. Năm 2009 bà V đã bỏ đi khỏi địa phương đến nay không có tin tức gì. Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp đã ra quyết định giải quyết việc dân sự số: 10/2019/QĐST-DS, ngày 03-9-2019, tuyên bố bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1968, nơi cư trú cuối cùng: Thôn 13, xã S, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông mất tích. Tại thời điểm Tòa án giải quyết vụ án bà V vẫn không có mặt tại địa phương. Căn cứ khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của ông Mai Xuân H.

[3]. Về con chung: Con chung là Mai Thành L, sinh ngày 12/9/2003, khi bà V bỏ đi khỏi địa phương đã mang theo con Mai Thành L. Xét thấy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho cháu L nên cần giao cho bà V nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi). Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở và có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

[4].Về tài sản chung, nợ chung và cấp dưỡng: Ông H không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

[5].Về án phí: Ông Mai Xuân H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 2 Điều 56 Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Mai Xuân H đối với bà Nguyễn Thị V.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Mai Xuân H được ly hôn với bà Nguyễn Thị V.

2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị V được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Mai Thành L, sinh ngày 12/9/2003 đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở và có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Ông Mai Xuân H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000051 ngày 09 tháng 01 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hay bản án được niêm yết.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ