- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Không công nhận là vợ chồng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Nhật T
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2020/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 7 - 2020 V/v Không công nhận là vợ chồng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đình Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Nghịch, ông Nguyễn Ngọc Huỳnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Lường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2020 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 211/2020/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Nhật T, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn TL, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Lệ H, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn TL, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Nhật T trình bày:
Ông T và bà Nguyễn Thị Lệ H tự nguyện chung sống với nhau từ tháng 11 năm 1997, nhưng không có đăng ký kết hôn.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã nhau và xô xát nhau vợ chồng sống ly thân từ năm 2010 cho đến nay. Nay ông T xác định không còn tình cảm nữa, ông T và bà H cũng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận ông T và bà H là vợ chồng.
- Về con chung: có 02 con chung Nguyễn Nhật T1, sinh năm 1998; Nguyễn Thị Thùy T2, sinh năm 1999; Các con chung đã đủ 18 tuổi phát triển bình thường và tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Lệ H trình bày: Bà và ông Nguyễn Nhật T tự nguyện chung sống với nhau từ tháng 11 năm 1997, nhưng không có đăng ký kết hôn.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã nhau và xô xát nhau vợ chồng sống ly thân từ năm 2010 cho đến nay. Nay ông T yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận ông T và bà H là vợ chồng thì bà H đồng ý.
- Về con chung: có 02 con chung Nguyễn Nhật T1, sinh năm 1998; Nguyễn Thị Thùy T2, sinh năm 1999; Các con chung đã đủ 18 tuổi phát triển bình thường và tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về tố tụng: Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án; xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự; việc thu thập chứng cứ, trình tự giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).
Trong quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Qua các các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án, đề nghị HĐXX Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuyên không công nhận ông Nguyễn Nhật T và bà Nguyễn Thị Lệ H là vợ chồng; Về con chung: Hiện các con chung đã đủ tuổi trưởng thành nên không xem xét giải quyết; Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Không công nhận là vợ chồng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, bị đơn có nơi cư trú tại Thôn TL, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Nhật T với bà Nguyễn Thị Lệ H chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1997, ông bà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Ông T có yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông T và bà H. Căn cứ khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình, HĐXX cần chấp nhận yêu cầu của ông T, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Nhật T với bà Nguyễn Thị Lệ H.
Về con chung: Các con chung Nguyễn Nhật T1, sinh năm 1998; Nguyễn Thị Thùy T2, sinh năm 1999 đã đủ 18 tuổi, phát triển bình thường và tự nuôi sống bản thân, ông T, bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Ông Nguyễn Nhật T với bà Nguyễn Thị Lệ H tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về án phí: Ông Nguyễn Nhật T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của Pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 7 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Nhật T
Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Nhật T với bà Nguyễn Thị Lệ H.
2. Về án phí: Ông Nguyễn Nhật T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí về hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số AA/2019/0009727 ngày 09/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Pắc; - Chi cục THADS huyện K; - Các đương sự; - Cổng thông tin điện tử Tòa án (nếu có); - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán – Chủ Tọa phiên tòa (Đã ký) Vũ Đình Nam |