vanban.org

Bản án 13/2020/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 31/03/2020 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/03/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điề u 308, Điề u 309, Điề u 310 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự .

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Ngọc S và bà Huỳnh Thị Lệ H. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án HNGĐ phúc thẩm Nguyễn Ngọc S - Huỳnh Thị Lệ H"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điề u 308, Điề u 309, Điề u 310 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự .
  • Căn cứ chính? Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2020/HNGĐ-PT
Ngày 31 - 3 - 2020
V/v Ly hôn, tranh chấ p nuôi con ,
chia tà i sả n khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trầ n Phương Đông

Các Thẩm phán: Bà Đỗ Thị Nhung

Bà Phạm Thị xuân Đào

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Huy Hoà ng – Thư ký Tò a á n

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉ nh Đồ ng Nai tham gia phiên toà

Bà Vũ Thị Mỹ Liên - Kiểm sát viên

Trong cá c ngà y 24, 25 và 31 tháng 3 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đì nh phú c thẩ m thụ lý số: 51/2019/TLPT- HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2019 về “Ly hôn, tranh chấ p nuôi con, chia tà i sả n khi ly hôn.”.

Do bản án hôn nhân gia đì nh sơ thẩm số 45/2019/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 7 năm 2019 của Toà án nhân dân huyệ n Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 12/2020/QĐPT- HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2020 và Thông báo về việc mở l ại phiên tòa giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1965 (có mặt)

Trú tại: Số 20/2, Khu 2, đường số 5, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đ.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông Sơn: Ông Phạm Quốc T –

Luật sư Văn phòng luật sư Phạm Quốc T thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ; Địa chỉ: Số 53 Đường Nguyễn Ái Quốc, phường T, thành phố B, tỉnh Đ (có mặt).

- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Lệ H, sinh năm 1967 (có mặt)

Trú tại: Số 20/2, Khu 2, đường số 5, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Anh Nguyễn Ngọc R, sinh năm 1989 (có mặt)

2/ Chị Hoàng Ngọc P, sinh năm 1989 (vắ ng mặ t)

3/ Cháu Nguyễn Hoàng Gia H, sinh năm 2017 (vắ ng mặ t)

4/ Cháu Nguyễn Hoàng Gia T, sinh năm 2018 (vắ ng mặ t)

Người đại diện theo pháp luật của cháu H và cháu T: Anh Nguyễn Ngọc R

và chị Hoàng Ngọc P.

5/ Anh Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1993(có mặt)

6/ Chị Nguyễn Thị Ngọc N, sinh năm 1991(vắ ng mặ t)

7/ Anh Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1987(vắ ng mặ t)

Cùng trú tại: Số 20/2, Khu 2, đường số 5, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Bản án sơ thẩm:

- Tại đơn khởi kiện, các bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn – ông Nguyễn Ngọc S trình bày:

Ông và bà Huỳnh Thị Lệ H tự nguyện về chung sống với nhau từ năm 1985, có tổ chức lễ cưới nhưng không đi đăng ký kết hôn. Quá trình sống chung thời gian đầu vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn nhưng không trầm trọng. Tuy nhiên, năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, khắc khẩu và thường xuyên xảy ra việc cãi vã, xô xát với nhau khiến cho không khí gia đình luôn căng thẳng. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu được ly hôn với bà H.

Về con chung: Quá trình chung sống ông và bà H có 04 con chung là Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1987, Nguyễn Ngọc R, sinh năm 1989, Nguyễn Thị Ngọc N, sinh năm 1991 và Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1993. Riêng cháu S bị bệnh viêm não, hiện nằm một chỗ và không có khả năng lao động, không có khả năng nhận thức nhưng chưa yêu cầu Tòa án tuyên bố Sang bị hạn chế hay mất năng lực hành vi dân sự. Khi ly hôn, ông đồng ý giao cháu S cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và tự nguyện cấp dưỡng cho cháu S 2.000.000đ/tháng. Ông không đồng ý với yêu cầu của bà H về việc trích ra diện tích đất 3.000m2 thuộc thửa 66, tờ bản đồ số 19, xã B, huyện T, tỉnh Đ để cho S, trước khi tiến hành chia tài sản chung của vợ chồng.

Về tài sản chung: Trong thời gian chung sống, ông và bà H tạo lập được khối tài sản chung gồm:

1/ Căn nhà cấp 4 tọa lạc trên thửa đất số 1010, tờ bản đồ số 7 (nay là thửa 371, tờ bản đồ số 29), xã B, huyện T, tỉnh Đ đã được Ủ y ban nhân dâ n huyện N (nay là T) cấp giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t ngày 17/01/1997, hiện đang làm thủ tục cấp đổi sổ mới, diện tích 136,5m2.

2/ Thửa đất số 86, tờ bản đồ số 19, xã B, huyện T, tỉnh Đ đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t số BO797544 ngày 08/7/2013, diện tích 7947,8m2.

3/ Thửa đất số 66, tờ bản đồ số 19, xã B, huyện T, tỉnh Đ đã được Ủ y ban nhân dân huyện T cấp giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t số BT180106 ngày 14/7/2014, diện tích 10418,7m2.

4/ Thửa đất số 91, tờ bản đồ số 19, xã B, huyện T, tỉnh Đ. Đất đã được Ủ y ban nhân dân huyện T cấp giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t số BT180107 ngày 14/7/2014, diện tích 6993,5m2.

Khi giải quyết ky hôn, ông đồng ý chia tài sản chung của vợ chồng là 04 thửa đất và tài sản trên đất nêu trên. Do năm 2013, ông và bà H sống ly thân nên đã thỏa thuận: Ông canh tác quản lý, sử dụng thửa đất số 66, các thửa đất 86, 91 và nhà tọa lạc tại thửa 371 do bà H canh tác, quản lý, sử dụng. Về giá trị các thửa đất để bù trừ chênh lệch yêu cầu Tòa án lấy kết quả của Hội đồng định giá và giá thỏa thuận. Ông yêu cầu được chia thửa đất 66, không yêu cầu bà H phải thanh toán giá trị chênh lệch.

Đối với yêu cầu chia tài sản chung của bà H giá trị vụ mùa 2016 – 2017 – 2018 – 2019 là 400.000.000đ thì ông không đồng ý vì hoa lợi thu được trên thửa đất này là chi phí, công sức do ông bỏ ra thì ông được hưởng.

Về nợ chung: Ông cam kết vợ chồng không có nợ chung.

- Bị đơn – bà Huỳnh Thị Lệ H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân giữa bà và ông Nguyễn Ngọc S đúng như lời ông trình bày. Bà và ông S về chung sống với nhau từ năm 1985 là hoàn toàn tự nguyện. Quá trình chung sống có xảy ra nhiều xích mích nhưng đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Ông S đã bỏ nhà lên rẫy sống một mình và vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay ông S yêu cầu ly hôn thì bà đồng ý vì tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã rất trầm trọng không thể đoàn tụ.

Về con chung: Bà và ông S có 04 người con chung như lời ông S trình bày. Năm 2013, cháu S phát bệnh và mất khả năng lao động, mất khả năng nhận thức nhưng bà chưa yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố S bị hạn chế hay mất năng lực hành vi dân sự. Hiện tại, bà đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng S, phải chạy chữa, thuốc men thường xuyên, chăm sóc rất vất vả. Khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu S và không yêu cầu ông Sơn cấp dưỡng nuôi con chung. Bà yêu cầu trích diện tích đất 3.000m2 thuộc thửa 66 (ông S đang canh tác, quản lý, sử dụng) cho S trước khi chia tài sản chung.

Về tài sản chung: Bà yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng gồm:

1/ Căn nhà cấp 4 tọa lạc trên thửa đất số 1010, tờ bản đồ số 7 (nay là thửa 371, tờ bản đồ số 29), xã B, huyện T, tỉnh Đ. Đất đã được Ủ y ban nhân dân huyện N (nay là huyệ n T) cấp giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t ngày 17/01/1997, hiện đang làm thủ tục cấp đổi sổ mới, diện tích 136,5m2.

2/ Thửa đất số 86, tờ bản đồ số 19, xã B, huyện T, tỉnh Đ. Đất đã được Ủy ban nhân dân huyệ n T cấp cấp giấ y chứ ng nhậ n quy ền sử dụng đất số BO797544 ngày 08/7/2013, diện tích 7947,8m2.

3/ Thửa đất số 66, tờ bản đồ số 19, xã B, huyện T, tỉnh Đ. Đất đã được Ủy ban nhân dân huyệ n T cấp cấp giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t số BT180106 ngày 14/7/2014, diện tích 10418,7m2.

4/ Thửa đất số 91, tờ bản đồ số 19, xã B, huyện T, tỉnh Đ. Đất đã được Ủy ban nhân dân huyệ n T cấp cấp giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t số BT180107 ngày 14/7/2014, diện tích 6993,5m2.

5/ Trị giá vụ mùa thu hoạch trên thửa đất số 66 trong các năm 2016 – 2017 – 2018 – 2019 là 400.000.000đ.

Bà đang canh tác, quản lý, sử dụng các thửa đất số 86, 91, 371 và tài sản trên đất. Đối với việc tính giá chênh lệch khi chia thì bà yêu cầu lấy giá trị thẩm định của Công ty thẩm định giá Bình Thuận đối với thửa 66, trị giá các thửa đất 86, 91, 371 lấy giá hai bên đã thỏa thuận.

Về nợ chung: Bà cho rằng chị Nguyễn Thị Ngọc N khi lao động tại Nhật Bản có gửi về cho bà tổng số tiền 320.000.000đ (ba trăm hai mươi triệ u đồ ng). Bà đã dùng số tiền này vào việc sửa nhà và chữa bệnh cho Nguyễn Ngọc S. Nay bà yêu cầu ông S phải có trách nhiệm trả cho N số tiền trên.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Anh Nguyễn Ngọc R: Anh là con của ông S và bà H, đang sống chung với bà H. Đối với yêu cầu chia tài sản chung thì anh không yêu cầu tính công sức đóng góp, không có yêu cầu độc lập trong vụ án.

Chị Hoàng Ngọc P (BL 51): Chị là con dâu của ông S, bà H. Hiện tại chị đang sống chung cùng bà H và chồng là anh R tại căn nhà tranh chấp, có nguyện vọng tiếp tục được ở trên căn nhà. Chị P không có yêu cầu độc lập trong vụ án, yêu cầu được xét xử vắng mặt.

Anh Nguyễn Ngọc L (BL 295): Anh là con của ông S và bà H. Đối với yêu cầu chia tài sản chung của ba mẹ thì anh không yêu cầu tính công sức đóng góp, không có yêu cầu độc lập trong vụ án, yêu cầu được xét xử vắng mặt.

Chị Nguyễn Thị Ngọc N: Chị là con của ông S và bà H. Đối với yêu cầu chia tài sản chung của ba mẹ thì chị không yêu cầu tính công sức đóng góp. Về khoản tiền 320.000.000đ khi lao động tại Nhật Bản chị đã gửi qua tài khoản và gửi qua bạn về cho mẹ (bà H). Nay bà H đã sử dụng số tiền này thì chị yêu cầu ba mẹ (ông S, bà H) có nghĩa vụ trả lại nhưng không làm đơn yêu cầu độc lập giải quyết trogn vụ án.

Anh Nguyễn Ngọc S: Vắng mặt suốt quá trình tố tụng, có mặt tại phiên tòa nhưng không có lời trình bày.

Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 45/2019/HNGĐ-ST ngày 26/7/2019, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã căn cứ :

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9 và Điều 95 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; điểm a mục 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 của Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ngày 09/6/2000; các Điều 19, 56, 59, 81, 82, 83, 84, 110, 116 và Điều 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 24, khoản 8, 9, 10 Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 27/02/2009 về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Ngọc S và bà Huỳnh Thị Lệ H.

2. Về con chung:

- Giao cho bà Huỳnh Thị Lệ H được trực tiếp trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng anh Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1993.

- Ông Nguyễn Ngọc S có nghĩa vụ đóng góp cho bà Huỳnh Thị Lệ H tiền cấp dưỡng nuôi anh Nguyễn Ngọc S mỗi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng) kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật cho đến khi anh Nguyễn Ngọc S có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.

- Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của ông Nguyễn Ngọc S.

- Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.

3. Về tài sản chung:

- Chia cho ông Nguyễn Ngọc S quyền sử dụng toàn bộ thửa đất số 66, tờ bản đồ 19, xã B, huyện T, tỉnh Đ và quyền sở hữu toàn bộ tài sản gắn liền trên đất.

- Chia cho bà Huỳnh Thị Lệ H quyền sử dụng toàn bộ thửa đất số 1010, tờ bản đồ số 7 (nay là thửa 371, tờ bản đồ số 29), thửa đất số 86 và 91 tờ bản đồ 19, xã B, huyện T, tỉnh Đ và quyền sở hữu toàn bộ tài sản gắn liền trên đất.

- Ông S và bà H có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới theo quy định.

- Ông Nguyễn Ngọc S có nghĩa vụ thanh toán cho bà Huỳnh Thị Lệ H số tiền 275.942.524đ (Hai trăm bảy mươi năm triệu chín trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm hai mươi bốn đồng); bao gồm:

+ Tiền bù chênh lệch về trị giá tài sản là: 273.558.124đ.

+ Tiền nợ nghĩa vụ tài chính đối với thửa đất số 86 tờ bản đồ số 19 xã B, huyện T, tỉnh Đ là 2.384.400đ.

Kể từ ngày bà Huỳnh Thị Lệ H có đơn yêu cầu thi hành án đối với các khoản tiền trên, nếu ông Nguyễn Ngọc S chậm thi hành án thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015.

4. Về án phí:

Ông S phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, số tiền 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con và số tiền 48.399.000đ (Bốn mươi tám triệu ba trăm chín mươi chín nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc chia tài sản chung. Được trừ vào số tiền 200.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 006773 ngày 12/10/2016 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Ông Sơn còn phải nộp 48.599.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Hiền phải nộp số tiền 66.509.000đ (Sáu mươi sáu triệu năm trăm lẻ chín nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc chia tài sản chung. Được trừ vào số tiền 7.000.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 007150 ngày 09/01/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Bà Hiền còn phải nộp 59.509.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Ngọc S có nghĩa vụ thanh toán cho bà Huỳnh Thị Lệ H số tiền chi phí tố tụng là 7.773.344đ (Bảy triệu bảy trăm bảy mươi ba nghìn ba trăm bốn mươi bốn đồng).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 27/7/2019 và ngày 05/8/2019, bị đơn bà Huỳnh Thị Lệ H có đơn kháng cáo đối với bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 45/2019/HNGĐ-ST ngày 26/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom và yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm:

1.Sửa mộ t phầ n bản án sơ thẩm số 45/2019/HNGĐ-ST ngày 26/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom và tại phíên tò a phú c thẩ m, bà Huỳnh Thị Lệ H đề nghị cấ p phú c thẩ m hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.

2.Xem xé t chấ p nhậ n cá c nộ i dung khá ng cá o:

- Về chi phí cấ p dưỡ ng nuôi con chung đang bị bệ nh nằ m liệ t giườ ng là chá u Nguyễ n Ngọ c S (1993), yêu cầ u ông Sơn chu cấ p 01 lầ n. Số tiề n chu cấ p tương đương vớ i giá trị 3.000m2 đấ t tạ i thử a số 6, tờ bả n đồ số 19 thuộ c xã B, huyệ n T.

- Lấ y kế t quả thẩ m đị nh giá củ a Công ty thẩ m đị nh giá B là m căn cứ giả i

quyế t việ c phân chia tà i sả n chung.

- Buộ c ông Nguyễ n Ngọ c S chia cho bà số tiề n 400.000.000đ về khoả n thu hoa lợ i trong thờ i gian từ 2016 đến năm 2019 trên thử a đấ t số 66 tờ bả n đồ số 19 thuộ c xã B, huyệ n T.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu ý kiến:

1. Về thủ tục tố tụng:

1.1 Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán

Từ khi vụ án được thụ lý theo trình tự phúc thẩm, thẩm phán đã tiến hành thông báo thụ lý vụ án theo đúng quy định tại điều 285 Bộ luật tố tụng dân sự . Việc tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự hợp lệ và chuyển hồ sơ cho Việ n kiể m sát cùng cấp nghiên cứu theo điều 171, 174và 292 Bộ luật tố tụng dân sự . Thẩm phán tuân thủ thời hạn chuẩn bị xét xử theo điều 286 Bộ luật tố tụng dân sự.

1.2 Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và thư ký:

Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luậ t tố tụ ng dân sự như:

- Đảm bảo đúng thành phần, Hội đồng xét xử đảm bảo sự vô tư, khách quan khi giải quyết vụ án, không có trường hợp phải thay đổi thành phần Hội đồng xét xử theo điều 52, 53 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Thủ tục phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến thời điểm này được Hội đồng xét xử phúc thẩm thực hiện đầy đủ, đúng trình tự về phiên tòa phúc thẩm theo quy định tại Điều 297 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Thư ký thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 51 và không thuộc trường hợp phải thay đổi thư ký theo quy định tại Điều 54 Bộ luật tố tụng dân sự.

1.3 Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng đúng theo quy định tại điều 70, 71, 72, 73, 75 Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Thủ tục kháng cáo:

Ngày 05/8/2019 bà H kháng cáo bản án sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì kháng cáo của bà Hiền còn trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục chung

3. Về nội dung kháng cáo:

Theo hồ sơ thể hiện bà H có 02 đơn kháng cáo đề ngày 27/7/2019 và 05/8/2019. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 24/3/2020 bà H xác định phạm vi kháng cáo của bà là theo đơn kháng cáo đề ngày 05/8/2019. Theo nội dung đơn kháng cáo ngày 05/8/2019 thì bà H kháng cáo đề nghị sửa án sơ thẩm về các vấn đề sau:

- Yêu cầu ông S cấp dưỡng 1 lần tương đương với giá trị bằng 3000m2 đất tại thửa 66 tờ bản đồ 19 xã B, huyện T.

- Lấy kết quả thẩm định giá của công ty thẩm định giá B làm căn cứ giải quyết việc phân chia tài sản chung.

- Buộc ông S chia đôi số tiền 400.000.000đ thu hoa lợi trong thời gian từ năm 2016 đến 2019 trên thửa 66 tờ bản đồ 19 xã B, huyện T.

Qua tài liệu trong hồ sơ nhận thấy:

- Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Theo bản án sơ thẩm, anh Nguyễn Ngọc S sinh năm 1993 nhưng bị bệnh viêm não, không có khả năng lao động và vận động, chưa ai yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Sang bị hạn chế hay mất năng lực hành vi dân sự. Hiện anh S đang được hưởng trợ cấp xã hội ở địa phương do thuộc diện khuyết tật trí tuệ và vận động số tiền 600.000đ/tháng. Ông S, bà H thống nhất giao anh S cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà H không yêu cầu ông Sơn cấp dưỡng nuôi con hàng tháng nhưng yêu cầu cấp dưỡng 1 lần tương đương diệ n tí ch trích 3000m2 thuộc 1 phần thửa 66 tờ bản đồ 19 xã B, huyện T cho anh S. Ông S không đồng ý, ông S chỉ đồng ý cấp dưỡng 2.000.000đ/tháng cho anh S.

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 24/3/2020, bà H tiếp tục yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng anh S nhưng không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi dưỡng anh S và yêu cầu ông S ủy quyền cho bà được bán 5000m2 đất thuộc 1 phần thửa đất số 66 tờ bản đồ 19 xã B, huyện T để bà chi phí nuôi con. Ông S không đồng ý với yêu cầu trên của bà H và tự nguyện cấp dưỡng cho anh S 1 tháng 3.000.000đ.

Như vậy, thì hai bên không thỏa thuận được với nhau về mức cấp dưỡng nuôi con. Theo quy định tại Điều 116,117 Luật Hô nhân và gia đì nh thì mức cấp dưỡng phải căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của cha mẹ, ông Sơn không đồng ý mức cấp dưỡng 1 lần và trình bày với điều kiện công việc làm vườn thì ông chỉ có thể cấp dưỡng ở mức đã tự nguyện nêu trên. Cũng theo quy định của pháp luật thì khi có lý do chính đáng mức cấp dưỡng có thể thay đổi, nếu sau này quá trình chăm sóc anh Sang, có những chi phí chữa bệnh mới phát sinh bà Hiền có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng đối với ông Sơn. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện về mức cấp dưỡng của ông Sơn, không chấp nhận kháng cáo của bà H về nội dung cấp dưỡng nuôi con.

- Về việc lấy kết quả thẩm định giá của công ty TNHH định giá - đo vẽ - môi giới bất động sản B chi nhánh Đ làm căn cứ phân chia tài sản chung.

Ông S, bà H thống nhất khối tài sản chung và yêu cầu chia gồm quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của các thửa 1010, 91, 86, 66 tờ bản đồ 19 xã B, huyện T.

Quá trình giải quyết vụ án, bà H 02 lần yêu cầu thẩm định giá đối với tài sản tranh chấp. Lần thứ nhất, bà yêu cầu Tòa án yêu cầu Công ty thẩm định giá Đ thẩm định giá trị thửa đất 66 tờ bản đồ 19 và tài sản trên đất (Tòa án không cho các đương sự thỏa thuận lựa chọn cơ quan thẩm định giá). Sau khi có kết quả thẩm định giá bà không đồng ý vì cho rằng giá trị quyền sử dụng đất được thẩm định quá thấp (tổng giá trị 1.372.000.000đ ). Bà H yêu cầu thẩm định giá lại và lựa chọn công ty TNHH định giá - đo vẽ - môi giới bất động sản B chi nhánh Đ (gọi tắt công ty B) thẩm định giá (ông S đồng ý với yêu cầu này của bà Hiền). Kết quả theo chứng thư của công ty B tổng giá trị là 2.025.200.000đ (BL 40, 99, 155, 162, 170).

Ông S không đồng ý với kết quả thẩm định của công ty Bình Thuận, đồng thời thay đổi thỏa thuận với bà H về giá trị quyền sử dụng và tài sản trên đất của các thửa 1010 (371), 86, 91 và yêu cầu Tòa án thành lập Hội đồng định giá tài sản để định giá giá trị sử dụng và tài sản trên đất của các thửa 66, 86, 91, 371. (BL 187). Theo kết quả của Hội đồng định giá thì: Trị giá quyề n sử dụ ng đấ t thửa 371 và tài sản trên đất là: 493.430.000đ; Trị giá quyề n sử dụ ng đấ t thửa 86 và tài sản trên đất là 350.000.000đ; Trị giá quyề n sử dụ ng đấ t thửa 91 và tài sản trên đất là 700.000.000đ; Trị giá quyề n sử dụ ng đấ t thửa 66 và tài sản trên đất là 1.484.883.540đ. Tổng trị giá tài sản tranh chấp là 3.028.313.540đ (BL 206,218).

Như vậy, trong vụ án các bên đương sự không tự thỏa thuận được giá trị tài sản tranh chấp và bà H cũng đã 02 lần yêu cầu thẩm định giá tài sản. Tại lần thẩm định giá lại (lần 2) cả bà H và ông S đều thống nhất lựa chọn công ty B nhưng chỉ thẩm định đối với thửa 66 và hai bên cũng không thống nhất với kết quả. Vì vậy, Tòa án căn cứ trên kết quả của Hội đồng định giá tài sản để giải quyết là khách quan. Bà H yêu cầu lấy kết quả của công ty B làm căn cứ chia tài sản chung là chưa phù hợp bởi kết quả định giá của công ty B không được ông S thừa nhận, trong khi Hội đồng định giá được thành lập đúng quy định, gồm đại diện cơ quan tài chính và các cơ quan chuyên môn có liên quan.

- Về yêu cầu buộc ông S chia đôi số tiền 400.000.000đ thu hoa lợi trong thời gian từ năm 2016 đến 2019 trên thửa 66 tờ bản đồ 19 xã B, huyện T.

Hai bên thống nhất đã sống ly thân từ năm 2013. Khi sống ly thân, ông S chuyển ra ngoài ở và trực tiếp canh tác, sử dụng thửa 66, các thửa đất còn lại bà H trực tiếp sử dụng và canh tác. Anh L là con trai của ông bà cũng khai như trên (BL 125). Bà H yêu cầu chia đôi số tiền thu hoa lợi trong thời gian từ năm 2016 đến 2019 là không có cơ sở chấp nhận vì trên thực tế khi sống ly thân hai ông bà đã tự thỏa thuận phân chia tài sản, thửa đất 66 từ năm 2016 đến 2019 là do một mình ông Sơn bỏ công sức và vốn đầu tư nên được thu hoa lợi trên đất, tương tự bà H cũng bỏ công sức và vốn đầu tư trên các thửa đất 371, 86, 91 nên được thu hoa lợi trên đất.

Vì những phân tích nêu trên, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà Hiền, xử y án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm , ngườ i bả o vệ quyề n và lợ i í ch hợ p phá p của ông Nguyễ n Ngọ c S đề nghị không chấ p nhậ n khá ng cá o của bà Huỳnh Thị Lệ H và giữ nguyên bả n á n sơ thẩ m , đề nghị ghi nhận việc ông S tự nguyện

cấ p dưỡ ng 3.000.000đ/tháng nuôi dưỡng anh Nguyễn Ngọc S kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi anh Nguyễn Ngọc S có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Ngày 12/10/2016, ông Nguyễn Ngọc S có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với bà Huỳnh Thị Lệ H. Trong quá trình giải quyết đã xác định, ông S và bà H có 01 con chung đã thành niên nhưng bị tàn tật, không có khả năng lao động nên phải xem xét, giải quyết khi ly hôn. Ngày 03/01/2017, bà Hiền có đơn yêu cầu giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. Do đó, quan hệ pháp luật cấ p sơ thẩ m xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn” là có cơ sở (việ c Tò a á n cấ p sơ thẩ m thụ lý yêu cầ u chia tà i sả n chung của bà Huỳnh Thị Lệ Hiền là yêu cầu phả n tố và tiế n hà nh tá ch vụ án là không đú ng – Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai ban hà nh quyế t đị nh giải quyết khiếu nại số 62/2018/QĐ-GQKN ngà y 08/10/2018 sau khi có khiế u nạ i củ a bà Huỳ nh Thị Lệ H – nguyên tắ c khi giả i quyế t vụ án hôn nhân gia đì nh (ly hôn), Tòa án phải xem xét, đà nh giá đầ y đủ về quan hệ hôn nhân , con chung, tài sản chung và nợ chung (nế u có)).

- Đơn kháng cáo của bà Huỳnh Thị Lệ H làm trong hạn luật định, đóng tạm ứng án phí đúng quy định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Tuy nhiên, hồ sơ vụ á n thể hiệ n bà Huỳ nh Thị Lệ H có hai đơn khá ng cá o và o cá c ngà y 27/7/2019 và ngày 05/8/2019 vớ i cá c yêu cầ u khá c nhau . Khi chuyể n hồ sơ cho cấ p phú c thẩ m, do không làm rõ nội dung này nên việc ra thông báo về việc kháng cáo chưa đầy đủ và tại phiên tòa phúc thẩm , cấ p phú c thẩ m phả i là m rõ yêu cầ u kháng cáo của bà Huỳnh Thị Lệ Hiền như trên đã phân tích trên.

Xét nội dung kháng cáo của bà Huỳnh Thị Lệ H , Hộ i đồ ng xé t xử phúc thẩ m xá c đị nh:

Về quan hệ hôn nhân:

Ông Nguyễn Ngọc S và bà Huỳnh Thị Lệ H cùng thừa nhận chung sống với nhau từ năm 1985 trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Do quan hệ hôn nhân giữa ông S và bà H được xác lập trước ngày 03/01/1987 (ngày luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực pháp luật) nên được công nhận là hôn nhân thực tế, khi ông Nguyễ n Ngọ c S có yêu cầu ly hôn thì được Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Tại cấp sơ thẩm, ông Nguyễ n Ngọ c S vẫn cương quyết giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn, bà H đồng ý ly hôn. Do đó , cấ p sơ thẩ m về quan hệ hôn nhân, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Ngọc S và bà Huỳnh Thị Lệ H (các đương sự không có kháng cáo nội dung này nên cấ p phúc thẩm không xem xét).

Về con chung:

Ông Nguyễ n Ngọ c S và bà Huỳnh Thị Lệ H có 04 người con chung là Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1987, Nguyễn Ngọc R, sinh năm 1989, Nguyễn Thị Ngọc N, sinh năm 1991 và Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1993. Năm 2013, Nguyễn Ngọc S bị bệnh viêm não, nằm một chỗ và không có khả năng lao động, chưa ai yêu cầu Tòa án tuyên bố S bị hạn chế hay mất năng lực hành vi dân sự (cấ p sơ thẩ m có yêu cầ u nhưng cá c đương sự không thự c hiệ n việ c yêu cầ u tuyên bố Nguyễ n Ngọ c S có mấ t năng lự c hà nh vi dân sự theo quy đị nh ). Cấ p sơ thẩ m căn cứ : theo phiếu khám sức khỏe tâm thần của Viện pháp y tâm thần trung ương Biên Hòa ngày 21/6/2017 (BL 110) thể hiện: “S bị mất trí không biệt định do di chứng viêm não” và theo biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã B ngày 15/6/2018 (BL 231) cũng thể hiện S đang được hưởng trợ cấp xã hội ở địa phương do thuộc diện khuyết tật trí tuệ và vận động, mỗi tháng 600.000đ để áp dụng khoản 1 Điều 92 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 về việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn thì Nguyễ n Ngọ c S là con đã thành niên bị tàn tật, không có khả năng lao động nên phải giải quyết giao cho cha hoặc mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng (các đương sự thống nhất nộ i dung nà y và không có ý kiến gì khác).

Tại cấp sơ thẩm , ông S và bà H thống nhất thỏa thuận giao Nguyễn Ngọc S cho bà H tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử cấ p sơ thẩ m công nhận sự thỏa thuận này và buộc ông Nguyễ n Ngọ c S có nghĩ a vụ cấ p dưỡ ng mộ t tháng 2.000.000đ kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật cho đến khi anh Nguyễn Ngọc S có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Huỳnh Thị Lệ H kháng cáo “ yêu cầ u ông Nguyễ n Ngọ c S chu cấ p 01 lầ n, số tiề n chu cấ p tương đương vớ i giá trị 3.000m2 đấ t tạ i thử a số 6, tờ bả n đồ số 19 thuộ c xã B, huyệ n T” (cấ p sơ thẩ m chưa là m rõ nộ i dung yêu cầ u nà y , cũng như chưa xá c đị nh anh Nguyễ n Ngọ c S có mấ t năng lự c hà nh vi dân sự hay không để làm cơ sở xem xét ). Tuy nhiên , do cá c bên đương sự thố ng nhấ t xá c đị nh : “Nguyễ n Ngọ c S là con đ ã thành niên bị tàn tật, không có khả năng lao động nên phải giải quyết giao cho cha hoặc mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và bà Huỳ nh Thị Lệ H tự nguyệ n chăm só c Nguyễ n Ngọ c S” , chỉ không thống nhất “mức cấp dưỡ ng mộ t lầ n tương đương vớ i giá trị cấ p tương đương vớ i giá trị 3.000m2 đấ t tạ i thử a số 6, tờ bả n đồ số 19 thuộ c xã B, huyệ n T” như yêu cầ u củ a bà Huỳ nh Thị Lệ H (đố i vớ i yêu cầ u nà y củ a bà H , ông Sơn không đồ ng ý nhưng tự nguyệ n cấ p dưỡ ng mộ t tháng 3.000.000đ kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật cho đến khi anh Nguyễn Ngọc S có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình).

Trên cơ sở quy đị nh củ a Luậ t Hôn nhân và Gia đì nh (quy đị nh về phương thứ c thự c hiệ n nghĩ a vụ cấ p dưỡ ng) và quy định của Bộ luậ t tố tụ ng dân sự , Hộ i đồ ng xé t xử cấ p phú c thẩ m căn cứ khoả n 2 điề u điề u 308, điề u 309 Bộ luậ t tố tụ ng dân sự để sử a bả n á n sơ thẩ m về phầ n cấ p dưỡ ng nuôi con theo hướ ng ghi nhậ n việ c ông Nguyễ n Ngọ c S tự nguyệ n cấ p dưỡ ng 3.000.000đ (ba triệ u đồ ng)/tháng nuôi dưỡng anh Nguyễ n Ngọ c S kể từ ngà y bả n á n có hiệ u lự c phá p luậ t cho đế n khi

anh Nguyễn Ngọc S có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình; không chấ p nhậ n khá ng cá o củ a bà Huỳ nh Thị Lệ H về việ c “yêu cầu ông S cấp dưỡng 01 lần tương đương với giá trị bằng 3000m2 đất tại thửa 66 tờ bản đồ 19 xã B, huyện T”.

Về tài sản chung:

Tại cấp sơ thẩm , bà H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn gồm:

- Căn nhà cấp 4 tọa lạc trên thửa đất số 1010, tờ bản đồ số 7 (nay là thửa 371, tờ bản đồ số 29), xã B, huyện T, tỉnh Đ, có diện tích 136,5m2, đã được Ủy ban nhân dân huyện T (nay là huyện B) cấp giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t ngày 17/01/1997, hiện đang làm thủ tục cấp đổi sổ mới.

- Thửa đất số 86, tờ bản đồ số 19, xã Bàu Hàm, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, diện tích 7947,8m2, đã được Ủy ban nhân dân huyện Trảng Bom cấp giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t số BO797544 ngày 08/7/2013.

- Thửa đất số 66, tờ bản đồ số 19, xã B, huyện T, tỉnh Đ, diện tích 10418,7m2, đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụng đất số BT180106 ngày 14/7/2014.

- Thửa đất số 91, tờ bản đồ số 19, xã B, huyện T, tỉnh Đ, diện tích 6993,5m2, đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t số BT180107 ngày 14/7/2014.

- Trị giá vụ mùa thu hoạch trên thửa đất số 66 trong các năm 2016 – 2017 – 2018 – 2019 là 400.000.000đ.

(Trướ c khi chia tà i chung, bà Huỳnh Thị Lệ H đề nghị “trích 3.000m2 đấ t tạ i thử a số 6, tờ bả n đồ số 19 thuộ c xã B , huyệ n T để cấp dưỡng nuôi con Nguyễn Ngọc S, nằ m mộ t chổ – Đơn yêu cầu tại BL26)

Quá trình làm việc tại cấp sơ thẩm , ông Nguyễ n Ngọ c S đồng ý chia tài sản chung là 04 thửa đất số 371, 66, 86, 91 và tài sản trên đất như bà H đã yêu cầ u nhưng không đồng ý chia trị giá vụ mùa thu hoạch trên thửa đất số 66 trong 04 năm là 400.000.000đ, cũng như các yêu cầu khác của bà H trướ c khi chia tà i sả n chung. Cấ p sơ thẩ m c ăn cứ vào hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và công văn số 11053/UBND-TNMT của Ủy ban nhân dân huyện T ngày 27/11/2018 về việc cung cấp thông tin thì thấy: 04 thửa đất đều được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Ngọc S và bà Huỳnh Thị Lệ H, được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, nguồn gốc do nhận chuyển nhượng, được xác định là tài sản chung của vợ chồng nên tiến hành chia theo quy định pháp luật là có cơ sở.

Đối với hoa lợi (vụ mùa thu hoạch) trên thửa đất số 66, ông S và bà H đều thừa nhận khi sống ly thân năm 2013 thì ông S là người trực tiếp quản lý, canh tác trên thửa đất, ông S là người bỏ công sức, vốn đầu tư trên thửa đất nên được thu hoa lợi trên đất. Bà H là người quản lý, sử dụng các thửa đất 371, 86, 91 cùng tài sản trên đất, canh tác, bỏ công sức, vốn đầu tư trên thửa đất nên được thu hoa lợi trên đất này. Do đó, việc cấ p sơ thẩ m không xem xé t hoa lợi trên thửa đất 66 (cũng như hoa lợ i trên cá c thử a đấ t bà H quản lý) là tài sản chung của vợ chồng là chưa đầ y đủ . Có như vậy, khi xem xé t chấ p nhậ n hay không chấ p nhậ n yêu cầ u củ a bà Huỳnh Thị Lệ H “về việ c buộc ông Nguyễ n Ngọ c S chia đôi số tiền 400.000.000đ thu hoa lợi trong thời gian từ năm 2016 đến 2019 trên thửa 66 tờ bản đồ 19 xã B huyện T” hay không mớ i đả m bả o quyề n lợ i cho ông Nguyễ n Ngọ c Sơn.

Khi tiến hành chia tài sản chung:

Cấ p sơ thẩ m xá c đị nh : Ông Nguyễ n Ngọ c S và bà Huỳnh Thị Lệ H đều có yêu cầu được nhận hiện vật để tiếp tục hoạt động nông nghiệp. Đồng thời, trong thời gian sống ly thân từ năm 2013 đến nay, ông S quản lý, sử dụng, canh tác và sinh sống trên thửa đất số 66; bà H quản lý, sử dụng, canh tác và sinh sống trên thửa đất 371, 86, 91 nên để đảm bảo ổn định cuộc sống, ổn định hoạt động sản xuất cần giao cho ông S tiếp tục được quyền sử dụng thửa đất số 66, tờ bản đồ số 19, xã B và sở hữu toàn bộ tài sản trên đất; giao cho bà H tiếp tục được quyền sử dụng thửa đất số 1010, tờ bản đồ số 7 (nay là thửa số 371, tờ bản đồ số 29) và thửa 86, 91, tờ bản đồ số 19, xã B và sở hữu toàn bộ tài sản trên đất là phù hợp.

Xác định công sức đóng góp và tỷ lệ chia:

Cấ p sơ thẩ m xá c đị nh : Khối tài sản chung có yêu cầu chia được hình thành trong thời kỳ hôn nhân và đều có nguồn gốc do ông S và bà H nhận chuyển nhượng. Các con chung đã thành niên đều không có công sức đóng góp vào khối tài sản chung này nên không đặt ra xem xét. Khi phân chia tài sản chung, Hội đồng xét xử cấ p sơ thẩ m căn cứ quy định tại Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 về nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn trong đó có nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người vợ, con đã thành niên bị tàn tật, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi sống mình thì bà H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng S, việc mất chi phí chạy chữa, thuốc thang, công sức và thời gian chăm sóc là có thật, đồng thời ông S cũng thừa nhận việc này là có cơ sở .

Khi xác định trị giá tài sản chia:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấ p sơ thẩ m đã cho các đương sự được tự thỏa thuận trị giá đấ t và tài sản trên đấ t thông qua cá c buổ i là m việ c (BL41). Cụ thể như sau:

- Căn nhà cấp 4 tọa lạc trên thửa đất số 1010, tờ bản đồ số 7 (nay là thửa 371, tờ bản đồ số 29), xã B, huyện T, tỉnh Đ, có diện tích 136,5m2, đã được UBND huyện T (nay là huyện B) cấp GCNQSDĐ ngày 17/01/1997 (hiện đang làm thủ tục cấp đổi sổ mới) đượ c thố ng nhấ t thỏ a thuậ n có giá trị : 250.000.000đ (hai trăm năm mươi triệ u)

- Thửa đất số 86, tờ bản đồ số 19, xã B, huyện T, tỉnh Đ, diện tích 7947,8m2, đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số BO797544 ngày 08/7/2013 đượ c thố ng nhấ t thỏ a thuậ n có giá trị 350.000.000đ (ba trăm năm mươi triệ u đồ ng);

- Thửa đất số 91, tờ bản đồ số 19, xã B, huyện T, tỉnh Đ, diện tích 6993,5m2, đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số BT180107 ngày 14/7/2014 đượ c thố ng nhấ t thỏ a thuậ n có giá trị 700.000.000đ (bảy trăm triệu đồng);

- Thửa đất số 66, tờ bản đồ số 19, xã B, huyện T, tỉnh Đ, diện tích 10418,7m2, đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số BT180106 ngày 14/7/2014 (các bên không thỏa thuận được).

Cấp sơ thẩm tạo điều kiện cho các bên thỏa thuận trong quá trình làm việc là phù hợ p theo quy đị nh củ a Bộ luậ t tố tụ ng dân sự nhưng không yêu cầ u cá c bên đương sự lậ p văn bả n về việ c thỏ a thuậ n , có chữ ký của các bên tham gia thỏa thuậ n, chưa đá nh giá việ c thỏ a thuậ n có đú ng quy đị nh phá p luậ t không là chưa đầ y đủ - đây là cơ sở quan trọ ng để xem xé t , quyế t đị nh cá c nộ i dung tố tụng khác theo quy đị nh.

Trong quá trì nh là m việ c , các đương sự nhiề u lầ n thay đổ i ý kiế n như : ngày 26/10/2017, ông Nguyễ n Ngọ c Sơn đơn phương có đơn yêu cầ u thay đổ i nộ i dung thỏa thuận trên (khi yêu cầ u đị nh giá tà i sả n ) và sau lại đơn phương đồng ý một phầ n thỏ a thuậ n trướ c đó mà chính mình đã thay đổ i; ngày 27/6/2018, bà Huỳnh Thị Lệ Hiền lại đơn phương thay đổi một phần thỏa thuận trước đó ... hay nó i cá ch khác, các bên đương sự không đồng ý với thỏa thuận ban đầu.

Để giả i quyế t nộ i dung không thỏ a thuậ n đượ c giá trị đấ t và tà i sả n trên đấ t thử a 66, tờ bản đồ số 19, xã Bàu Hàm, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, diện tích 10418,7m2, đã được Ủ y ban nhân dân huyện T cấp giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t số BT180106 ngày 14/7/2014, cấ p sơ thẩ m đã cho tiế n hà nh 02 (hai) lầ n thẩ m đị nh giá . Cụ thể như sau:

- Lầ n thứ nhấ t: Tòa án nhân dân huyệ n T yêu cầ u Công ty cổ phầ n thẩ m đị nh giá Đ tiế n hà nh thẩ m đị nh giá (không có văn bả n cá c bên thố ng nhấ t nhưng bà H đồ ng ý đó ng tạm ứng chi phí 10.000.000đ (mườ i triệ u đồ ng) và khi tiến hành thẩm đị nh thì cá c bên đồ ng ý – hay nó i cá ch kh ác các bên đương sự không được chọn nơi tiế n hà nh thẩ m đị nh giá ).

Kế t quả là giá trị đất và tài sản trên đất thửa 66, tờ bản đồ số 19, xã B, huyện T, tỉnh Đ, diện tích 10418,7m2, đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t số BT180106 ngày 14/7/2014 có giá trị là 1.372.000.000đ (mộ t tỷ ba trăm bả y mươi hai triệ u đồ ng ). Sau khi có kế t quả , ông Nguyễ n Ngọ c S đồ ng ý nhưng bà Huỳnh Thị Lệ H không đồ ng ý . Để giả i quyế t việ c nà y , cấp sơ thẩ m đã có văn bản đề nghị Công ty cổ phầ n thẩ m đị nh giá Đồng Nai giải thích kế t quả việ c thẩ m đị nh đị nh giá và Công ty thẩ m đị nh giá Đồ ng Nai đã có văn bả n số 419/TĐG-CV ngày 29/6/2017 (BL107) xác định: “đơn giá quyề n sử dụ ng đấ t đã thẩ m đị nh là phù hợ p nên giữ nguyên kế t quả đơn giá đấ t là 70.000 đố ng/m2 “.

Tại Biên bản làm việc vào ngày 18/8/2017 (BL136-137) thể hiệ n: cấ p sơ thẩ m yêu cầ u Công ty cổ phầ n thẩ m đị nh giá Đ thẩ m đị nh giá không có sự thỏ a thuậ n của các đương sự , ông S không có ý kiế n về kế t quả thẩ m đị nh giá nhưng bà H không đồ ng ý kế t quả thẩ m đị nh giá do cấ p sơ thẩ m thự c hiệ n k hông đú ng trì nh tự , thủ tục thẩm định giá và giá thấp hơn giá thị trường.

- Lầ n thứ hai: Do không đồ ng ý vớ i kế t quả nêu trên , bà Huỳnh Thị Lệ H có đơn yêu cầ u Công ty TNHH đị nh giá , đo vẽ , môi giớ i bấ t độ ng sả n B – Chi nhá nh Đ thẩ m đị nh giá lại giá trị đất và tài sản trên đất thửa 66, tờ bản đồ số 19, xã B, huyện T, tỉnh Đ, diện tích 10418,7m2, đã được Ủ y ban nhân dân huyện T cấp giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t số BT180106 ngày 14/7/2014 (các bên đương sự thố ng nhấ t, Thẩ m phá n phụ trá ch hồ sơ chứ ng kiế n – Biên bả n thỏ a thuậ n và o ngà y 14/9/2017 tại BL162).

Kế t quả thẩ m đị nh giá lạ i thể hiệ n : giá trị đất và tài sản trê n đấ t thử a 66, tờ bản đồ số 19, xã B, huyện T, tỉnh Đ, diện tích 10418,7m2, đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t số BT180106 ngày 14/7/2014 có giá trị là 2.025.202.000đ (hai tỷ không trăm hai mươi lăm triệ u hai trăm lẽ hai nghìn đồng).

Sau khi có kế t quả , tại buổi làm việc vào ngày 05/10/2017 (BL177), các bên đương sự thể hiệ n ý kiế n: Ông Nguyễ n Ngọ c S không đồ ng ý ví kế t quả thẩ m đị nh giá lần 2 quá cao vì “khu vự c nà y không thể có giá cao như vậ y”, đề nghị lấy kế t quả thẩm định giá của Công ty cổ phần thẩm định giá Đồng Nai; còn bà Huỳnh Thị Lệ H đồ ng ý kế t quả thẩ m đị nh giá lần 2 vì “giá phù hợp với đất ở khu vực lân cận thử a đấ t nà y”.

Cấp sơ thẩm không là m rõ , cũng như không có văn bả n yêu cầ u Công ty TNHH đị nh giá , đo vẽ , môi giớ i bấ t độ ng sả n B – Chi nhá nh Đ giải thích tại sao “kế t quả thẩ m đị nh giá lầ n 2 có sự chênh lệch lớ n so vớ i kế t quả thẩ m đị nh giá lầ n 1 của Công ty cổ phầ n thẩ m đị nh giá Đ”. Do đó , cấ p phú c thẩ m không thể xem xé t chấ p nhậ n nộ i dung khá ng cá o củ a bà Huỳ nh Thị Lệ H về việ c “lấ y kế t quả thẩ m đị nh giá củ a Công ty thẩ m đị nh giá B làm căn cứ giải quyết việc phân chia tài sản chung”.

Do không đồ ng ý vớ i kế t quả thẩ m đị nh giá lầ n 2 nêu trên, ông Nguyễ n Ngọ c S có “Đơn yêu cầ u Tò a á n ra Quyế t đị nh đị nh giá tà i sả n” đố i vớ i thử a đấ t 66, 86, 371 (trướ c đây là thử a 1010), 91 vớ i lý do: “kế t quả thẩ m đị nh giá là quá cao không phù hợp giá trị thực tế ; giá của ông Nguyễn Ngọc S và bà Huỳnh Thị Lệ H thỏa thuận là quá thấp , không phú hợ p vớ i giá trị tà i sả n , ảnh hưởng đến quyề n lợ i củ a ông Nguyễ n Ngọ c S – hay nó i cá ch khá c là ông Nguyễ n Ngọ c S đơn phương không đồ ng ý vớ i việ c thỏ a thuậ n trướ c đ

ó với bà Huỳnh Thị Lệ H ” (BL184, BL187).

Trên cơ sở quy đị nh củ a Bộ luậ t tố tụ ng dân sự

, cấ p sơ thẩ m đã ban hà nh Quyế t đị nh số 01/2018/QĐ-ĐG ngà y 12/01/2018 về việ c đị nh giá tà i sả n và thà nh lậ p hộ i đồ ng đị nh giá để tiế n hà nh đị nh giá tà i sả n tranh chấ p gồ m: thử a đấ t 66, 86, 91 tờ bả n đồ 19 và thửa đất 371 tờ bả n đồ số 29 tọa lạc tại xã B , huyệ n T, tỉnh Đ cùng toàn bộ cây trồng và công trình nằm trên các thửa đấ t trên (BL197).

Trong cá c ngà y 24/01/2018 (BL204-206) và ngày 13/4/2018 (BL217-218), Hộ i đồ ng đị nh giá tà i sả n đã tiến hà nh đị nh giá theo Quyế t đị nh củ a Tò a á n vớ i kế t quả: giá trị quyền sử dụng đất và giá trị tài sả n trên thử a đấ t 66: 1.484.880.540đ (mộ t tỷ bố n trăm tá m mươi bố n triệ u tá m trăm tá m mươi nghì n năm trăm bố n mươi đồ ng); giá trị quyền sử dụng đất và giá trị tài sản trên thửa đất 86: 300.000.000đ (ba trăm triệ u đồ ng); giá trị quyề n sử dụ ng đấ t và giá trị tà i sả n trên thử a đấ t 1010 (371): 493.430.000đ (bố n trăm chí n mươi ba triệ u bố n trăm ba mươi nghì n đồ ng ); đố i vớ i giá trị quyề n sử dụ ng đấ t và giá trị tà i sả n trên thử a đấ t 91: thì Hội đồng đị nh giá tà i sả n không tiế n hà nh đị nh giá theo quyế t đị nh củ a Tò a á n mà Hộ i đồ ng đị nh giá căn cứ và o ý kiế n ông Nguyễ n Ngọ c Sơn “đố i vớ i thử a đấ t 91 tờ bả n đồ số 19 xã Bàu Hàm, tôi không yêu cầ u đị nh giá , đồ ng ý lấ y giá đã thỏa thuận” (BL217) – Biên bả n đị nh giá tà i sả n không có chữ ký củ a bà Huỳnh Thị Lệ H do bà H bỏ về nhưng cấ p sơ thẩ m không lậ p biên bả n về nộ i dung nà y.

Việ c Hộ i đồ ng đị nh giá tà i sả n căn cứ và o ý kiế n c ủa riêng ông Nguyễn Ngọc Sơn để không thự c hiệ n đị nh giá thử a đấ t 91 tờ bả n đồ số 19 xã B theo Quyế t đị nh của Tòa án là không đúng quy định về định giá tài sản theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Như vậ y, việ c ghi nhậ n sự thỏ a thuậ n củ a cá c đương sự , việ c thẩ m đị nh giá và đị nh giá không đú ng quy đị nh phá p luậ t (như trên đã phân tí ch ) đã dẫ n đế n việ c bản án sơ thẩm xác định giá trị tài sản chung để làm căn cứ chia tài

sản chung không đú ng ((vừ a lấ y kế t quả đị nh giá vừ a lấ y thỏ a thuậ n trướ c đó củ a đương sự dù sự thỏa thuận này trước đó bị chính các đương sự thay đổi, không đồ ng ý ) và tại phíên tò a phú c thẩ m , các bên đương sự không thố ng nhấ t đượ c vớ i nhau về nộ i dung “xá c đị nh giá trị tà i sả n chung để là m căn cứ chia tà i sả n chung”

(ông Nguyễ n Ngọ c S thì đề nghị lấy kết quả của Hội đồng định giá và giá thỏa thuận; bà Huỳnh Thị Lệ H thì đề nghị lấy giá thẩm định của Công ty TNHH định giá , đo vẽ , môi giớ i bấ t độ ng sả n B – Chi nhá nh Đ và giá thỏa thuận).

Do cấ p sơ thẩ m có thiế u só t trong việ c xá c đị nh tà i sả n chung , giá trị tài sản chung để làm căn cứ chia tài sản chung (như đã nêu trên ) – cấ p phú c thẩ m không thể bổ sung đượ c tại phíên tòa phúc thẩm , các đương sự không thống nhất và để đả m bả o nguyên tắ c hai cấ p xé t xử nên Hộ i đồ ng xé t xử phú c thẩ m quyế t đị nh căn cứ và o khoả n 3 điề u 308 và điều 310 Bộ luậ t tố tụ ng dân sự quyế t đị nh chấ p nhậ n mộ t phầ n khá ng cá o củ a bà Huỳ nh Thị Lệ H , hủy một phần bản án sơ thẩm về nội dung chia tà i sả n chung, chuyể n hồ sơ cho Tò a á n nhâ n dân huyệ n T giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm để đảm bảo quyền lợi của các đương sự.

. Về nợ chung:

Tại cấp sơ thẩm , bà Huỳnh Thị Lệ H, trong thời gian sống ly thân bà có mượn của chị Nguyễn Thị Ngọc N số tiền 320.000.000đ (ba trăm hai mươi triệ u đồ ng) để sửa nhà và chữa bệnh cho Nguyễ n Ngọ c S. Ông Nguyễ n Ngọ c S không thừa nhận về việc này, đồng thời chị Nguyễn Thị Ngọc N không có yêu cầu độc lập trong vụ án nên Hội đồng xét xử cấ p sơ t hẩ m không có cơ sở xem xét. Chị Nguyễn Thị Ngọc N có quyền khởi kiện tranh chấp vay tài sản với ông S, bà H bằng một vụ án khác khi có yêu cầu (các đương sự không có kháng cáo nội dung này nên cấ p phú c thẩ m không xem xé t)

Về án phí và các chi phí tố tụng:

- Do khá ng cá o đượ c chấ p nhậ n mộ t phầ n nên bà Huỳnh Thị Lệ H không phải chịu án phí phúc thẩm (hoàn trả lại cho bà Huỳnh Thị Lệ H số tiề n 300.000đ (ba trăm nghì n đồ ng ) đã nộ p tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006968 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T).

- Ông Nguyễ n Ngọ c S phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, số tiền 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con (đã nộ p số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 006773 ngày 12/10/2016 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, còn tiếp tục nộp số tiề n 200.000đ (hai trăm nghì n đồ ng))

- Đối với án phí dân sự sơ thẩ m về chia tà i sả n chung và chi phí tố tụng sẽ đượ c cấ p sơ thẩ m xem xé t khi giả i quyế t lạ i vụ á n.

Đối với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồ ng Nai và ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên dơn đã được Hội đồ ng xé t xử thể hiệ n quan điể m như trên đã phân tí ch.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điề u 308, Điề u 309, Điề u 310 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự .

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9 và Điều 95 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; điểm a mục 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 của Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ngày 09/6/2000; các Điều 19, 56, 59, 81, 82, 83, 84, 110, 116 và Điều 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 24, khoản 8, 9, 10 Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 27/02/2009 về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Ngọc S và bà Huỳnh Thị Lệ H.

2. Về con chung:

- Giao cho bà Huỳnh Thị Lệ H được trực tiếp trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng anh Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1993.

- Sử a mộ t phầ n bả n á n sơ thẩ m về mứ c cấ p dưỡ ng theo hướ ng

: Ghi nhậ n việ c ông Nguyễn Ngọc S tự nguyệ n đóng góp cho bà Huỳnh Thị Lệ H tiền cấp dưỡng nuôi anh Nguyễn Ngọc S mỗi tháng 3.000.000đ (ba triệu đồng) kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật cho đến khi anh Nguyễn Ngọc S có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.

- Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của ông Nguyễn Ngọc S.

- Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.

3. Hủy một phần bản á n sơ thẩ m về nộ i dung chia tà i sả n chung, chuyể n hồ sơ cho Tò a á n nhân dân huyệ n T giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm để đảm bảo quyề n lợ i củ a cá c đương sự .

4. Về án phí:

- Bà Huỳnh Thị Lệ H không phải chịu án phí phúc thẩm (hoàn trả lại cho bà Huỳnh Thị Lệ Hiền số tiền 300.000đ (ba trăm nghì n đồ ng ) đã nộ p tạ i Biên lai thu tiề n tạ m ứ ng á n phí số 0006968 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T).

- Ông Nguyễ n Ngọc S phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, số tiền 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con (đã nộ p số tiền 200.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 006773 ngày 12/10/2016 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, còn tiếp tục nộp 200.000đ)

- Đối với án phí dân sự sơ thẩm về chia tài sản chung và chi phí tố tụng sẽ

đượ c cấ p sơ thẩ m quyế t đị nh khi giả i quyế t lạ i vụ á n.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ