vanban.org

Bản án 13/2020/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

TAND Q. Ô Môn, TP. Cần Thơ Tuyên án 09/09/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L đối với bà Nguyễn Thị Bé H và ông Lê Hồng D. Buộc bà Nguyễn Thị Bé H và ông Lê Hồng D liên đới chịu trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền 46.175.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu, một trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Bản án giữa bà Nguyễn Thị L và bà Nguyễn Thị Bé H"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN Ô MÔN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2020/DS-ST
Ngày: 09-9-2020
V/v Tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN –THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Trần Thanh Thế.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Ngọc Ẩn.

2. Ông Nguyễn Vĩnh Thạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Như Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ô Môn.

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ.

Trong ngày 09 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 22/2020/TLST-DS ngày 03 tháng 02 năm 2020 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2020/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2020/QĐST-DS ngày 25 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1971. (có mặt)

Địa chỉ: Khu vực G, phường C, quận M, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bé H, sinh năm 1972. (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu vực G, phường C, quận M, thành phố Cần Thơ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Lê Hồng D, sinh năm 1968. (vắng mặt)

- Bà Lê Thị X, sinh năm 1955. (có đơn xin vắng mặt)

- Bà Ngô Thị Hồng Th, sinh năm 1952. (có đơn xin vắng mặt)

- Bà Nguyễn Kim T, sinh năm 1989. (có đơn xin vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Khu vực G, phường C, quận M, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:

Bà có tham gia hụi do bà Nguyễn Thị Bé H và ông Lê Hồng D làm chủ hụi, cụ thể:

- Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 30/9/2017 (âm lịch), gồm có 17 phần. Bà tham gia 03 phần, đã hốt 02 phần, còn lại 01 phần đã góp được 15 lần x 1.000.000 đồng/lần = 15.000.000 đồng.

- Hụi mùa 2.000.000 đồng, 03 tháng khui 01 lần, khui ngày 20/7/2017 (âm lịch), gồm có 15 phần. Bà tham gia 01 phần hụi, đã góp được 06 lần x 2.000.000 đồng/lần = 12.000.000 đồng.

- Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 20/12/2017 (âm lịch), gồm có 17 phần. Bà tham gia 01 phần, đã góp được 13 lần x 1.000.000 đồng/lần = 13.000.000 đồng.

- Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 05/7/2018 (âm lịch), gồm có 16 phần. Bà tham gia 02 phần, đã góp được 06 lần x 2.000.000 đồng/lần = 12.000.000 đồng.

- Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 10/7/2018 (âm lịch), gồm có 16 phần. Bà tham gia 02 phần, đã đóng được 06 lần x 2.000.000 đồng/lần = 12.000.000 đồng.

Tổng số tiền hụi bà đã góp cho bà H, ông D là 64.000.000 đồng. Bà chưa hốt các dây hụi trên thì bà H tuyên bố bể hụi và không trả lại số tiền hụi cho bà. Nay bà yêu cầu bà H và ông D trả lại cho bà số tiền hụi là 64.000.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu đồng).

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 25/02/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Lê Hồng D trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị Bé H là vợ chồng, cùng đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu vực 12, phường Châu Văn Liêm, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ. Bà H có làm chủ hụi khoảng 10 năm nay, đến khoảng tháng 9 năm 2019 thì bể hụi. Do kinh tế gia đình quá khó khăn không có khả năng trả tiền hụi cho các hụi viên nên đến tháng 10/2019, ông và bà H đi đến tỉnh Bình Dương tìm việc làm.

Khi bà Bé H làm chủ hụi, bà Nguyễn Thị L có tham gia chơi hụi nhưng ông không biết bà L tham gia bao nhiêu chân hụi. Ông thừa nhận bà H có nợ tiền hụi của bà L nhưng hiện nay ông chưa xác định được số tiền hụi bà H nợ bà L là bao nhiêu. Do bận đi làm nên bà H không đến Tòa án được, ông và bà H sẽ tính toán lại sổ hụi để xác định số tiền hụi còn nợ bà L.

Mặc dù việc tổ chức hụi là do bà H tự làm, ông không có tham gia nhưng do là vợ chồng nên ông đồng ý cùng bà H chịu trách nhiệm trả lại cho bà L số tiền hụi thực tế bà L đã đóng, yêu cầu bà L không tính tiền lãi.

* Tại Đơn xin vắng mặt tại phiên tòa ngày 22/7/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Lê Thị X trình bày:

Bà có tham bà Nguyễn Thị L có tham gia chung 03 dây hụi gồm:

- Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 10/7/2018 (âm lịch), gồm có 16 phần. Bà tham gia 02 phần hụi.

- Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 30/9/2017 (âm lịch), gồm có 17 phần. Bà tham gia 01 phần hụi.

- Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 05/7/2018 (âm lịch), gồm có 16 phần. Bà tham gia 02 phần hụi.

Do bận công việc nên bà xin được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 22/7/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Ngô Thị Hồng Th trình bày:

Bà và bà Nguyễn Thị L có quen biết nhau vì cùng tham gia hụi do bà Nguyễn Thị Bé H làm chủ hụi. Bà và bà L có tham gia chung 04 dây hụi do bà H làm chủ hụi gồm:

- Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 30/9/2017 (âm lịch), gồm có 17 phần, bà tham gia 02 phần, còn bà L thì tham gia 03 phần. Phần hụi này bà đã góp được 30.000.000 đồng, bà L đã góp được 15.000.000 đồng. Do bể hụi nên bà H chưa giao tiền hụi cho bà và bà L.

- Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 20/12/2017 (âm lịch), gồm có 17 phần, bà tham gia 02 phần, còn bà L thì tham gia 01 phần. Phần hụi này bà đã góp được 24.000.000 đồng, bà L đã góp được 13.000.000 đồng. Do bể hụi nên bà H chưa giao tiền hụi cho bà và bà L.

- Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 05/7/2018 (âm lịch), gồm có 16 phần. Bà tham gia 03 phần, còn bà L thì tham gia 01 phần. Phần hụi này bà đã góp được 15.000.000 đồng, bà L đã góp được bao nhiêu tiền thì bà không biết nhưng bà biết bà L chưa hốt hụi này. Do bể hụi nên bà Bé H chưa giao tiền hụi cho bà và bà L.

- Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 10/7/2018 (âm lịch), gồm có 16 phần, bà tham gia 01 phần, còn bà L thì tham gia 01 phần. Phần hụi này bà đã hốt xong, bà L đã góp được bao nhiêu tiền thì bà không biết nhưng bà biết bà L chưa hốt hụi này.

Bà không có yêu cầu gì trong vụ án này. Đồng thời, do bận công việc nên bà yêu cầu được vắng mặt tại các phiên hòa giải, công khai chứng cứ và xét xử vụ án này.

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 22/7/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Nguyễn Kim T trình bày:

Bà và bà Nguyễn Thị L có quen biết nhau vì cùng chơi hụi do bà Nguyễn Thị Bé H làm chủ hụi. Bà và bà L có tham gia chung 01 dây hụi do bà Bé H làm chủ hụi gồm: Hụi mùa 2.000.000 đồng/tháng, khui ngày 20/7/2017 (âm lịch), gồm có 15 phần. Bà tham gia 01 phần, bà L cũng tham gia 01 phần. Phần hụi này bà và bà L đóng được 6 lần x 2.000.000 đồng/lần = 12.000.000 đồng thì bể hụi. Bà chưa hốt hụi, còn bà L đã hốt hụi chưa thì bà không biết.

Bà không có yêu cầu gì trong vụ án này. Đồng thời, do bận công việc nên bà yêu cầu được vắng mặt tại các phiên hòa giải, công khai chứng cứ và xét xử vụ án này.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L thay đổi yêu cầu khởi kiện, bà L yêu cầu bà Nguyễn Thị Bé H và ông Lê Hồng D cùng chịu trách nhiệm trả cho bà số tiền hụi là 46.175.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu, một trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

- Bị đơn bà Nguyễn Thị Bé H vắng mặt không có lý do.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hồng D vắng mặt không có lý do; bà Lê Thị X, bà Ngô Thị Hồng Th và bà Nguyễn Kim T có đơn xin vắng mặt.

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:

+ Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hụi”, xác định tư cách đương sự và tiến hành thu thập chứng cứ đúng quy định.

+ Về nội dung: Qua xem xét các tài liệu chứng cứ và diễn biến tại phiên tòa, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 471 Bộ luật dân sự chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Bà L, ông D, bà X, bà Th và bà T cùng xác định bà H có làm chủ hụi, quá trình làm hụi có phát sinh tranh chấp nên bà L khởi kiện, do đó quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp hụi”. Đây là tranh chấp dân sự giữa cá nhân với cá nhân, được pháp luật dân sự điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 và Điểm a Khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị Bé H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hồng D đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do; bà Lê Thị X, bà Ngô Thị Hồng Th và bà Nguyễn Kim T có đơn xin vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Từ năm 2017 đến năm 2018, bà H có làm chủ hụi nhiều dây hụi, bà L có tham gia chơi 05 dây hụi, cụ thể:

- Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 30/9/2017 (âm lịch), gồm có 17 phần, hụi viên gồm có bà L, bà X, bà Th và một số người khác không rõ họ tên và địa chỉ. Bà L tham gia 03 phần, đã hốt 02 phần, còn lại 01 phần chưa hốt, bà L đã góp được 15 lần, trung bình mỗi lần góp khoảng 750.000 đồng/phần, tổng số tiền bà L đã góp cho 01 phần hụi chưa hốt là 11.250.000 đồng. Bà Th đã góp được 30.000.000 đồng, bà X tham gia 01 phần hụi (không rõ số tiền đã góp). Bà L và bà Th chưa hốt hụi, không rõ bà X đã hốt hụi chưa.

- Hụi mùa 2.000.000 đồng, khui ngày 20/7/2017 (âm lịch), gồm có 15 phần, hụi viên gồm có bà L, bà T và một số người khác không rõ họ tên và địa chỉ. Bà L tham gia 01 phần và đã góp 06 lần, trung bình mỗi lần góp khoảng 1.350.000 đồng, tổng số tiền bà L đã góp là 8.100.000đồng; bà T tham gia 01 phần và đã hốt hụi xong. Bà L chưa hốt hụi.

- Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 20/12/2017 (âm lịch), gồm có 17 phần, hụi viên gồm có bà L, bà Th và một số người khác không rõ họ tên và địa chỉ. Bà L tham gia 01 phần và đã góp 13 lần, trung bình mỗi lần góp khoảng 725.000 đồng, tổng số tiền bà L đã góp là 9.425.000 đồng; bà Th đã góp số tiền 24.000.000 đồng. Bà L và bà Th chưa hốt hụi.

- Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 05/7/2018 (âm lịch), gồm có 16 phần, hụi viên gồm có bà L, bà X, bà Th và một số người khác không rõ họ tên và địa chỉ. Bà L tham gia 02 phần và đã góp 06 lần, trung bình mỗi lần góp khoảng 725.000 đồng/phần, tổng số tiền bà L đã góp cho 02 phần hụi là 8.700.000 đồng; bà Th đã góp số tiền 15.000.000 đồng, bà X tham gia 02 phần hụi (không rõ số tiền đã góp). Bà L và bà Th chưa hốt hụi, không rõ bà X đã hốt hụi chưa.

- Hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 10/7/2018 (âm lịch), gồm có 16 phần, hụi viên gồm có bà L, bà X, bà Th và một số người khác không rõ họ tên và địa chỉ. Bà L tham gia 02 phần và đã góp 06 lần, trung bình mỗi lần góp khoảng 725.000 đồng/phần, tổng số tiền bà L đã góp cho 02 phần hụi là 8.700.000 đồng; bà Th tham gia 01 phần hụi, bà X tham gia 02 phần hụi (không rõ số tiền bà Th và bà X đã góp). Bà L chưa hốt hụi, bà Th đã hốt hụi, không rõ bà X đã hốt hụi chưa.

Nay bà L khởi kiện yêu cầu bà H, ông D trả số tiền hụi là 46.175.000 đồng. Bà X, bà Th và bà T không có yêu cầu trong vụ án này.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Theo đơn khởi kiện, bà L yêu cầu bà H, ông D trả cho bà số tiền 64.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bà L có thay đổi yêu cầu khởi kiện, bà L chỉ yêu cầu bà H, ông D trả số tiền hụi là 46.175.000 đồng. Theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, có quyền chấm dứt hoặc thay đổi yêu cầu của mình. Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi đơn khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận

Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, bà L có cung cấp 05 tờ giấy hụi viết tay thể hiện 05 dây hụi ngày 30/9/2017, ngày 20/7/2017, ngày 20/12/2017, ngày 05/7/2018 và 10/7/2018 (cùng tính theo ngày âm lịch). Theo bà L đây là các giấy hụi do bà H tự ghi và đưa cho bà và các hụi viên. Bà chỉ biết bà có chơi hụi cùng với bà X, bà Th và bà T, còn lại tên của những người khác trong giấy hụi thì bà không biết. Trong quá trình tham gia hụi, bà H không cho các hụi viên biết cụ thể những ai đã hốt hụi, do tin tưởng nên bà vẫn góp hụi đầy đủ cho bà H, đến khi bể hụi thì bà mới biết có một số dây hụi mặc dù đã mãn nhưng vẫn còn nhiều người chưa được hốt hụi.

Bà bà X, bà Th và bà T đều thừa nhận các dây hụi trên là có thật. Ông D thừa nhận việc bà H có nợ tiền hụi của bà L nhưng không xác định được cụ thể bao nhiêu tiền. Do bà H và ông D đã vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không đưa ra ý kiến phản bác đối với chứng cứ và yêu cầu khởi kiện của bà L nên Hội đồng xét xử xem xét đối chiếu lời khai của các đương sự cùng với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, từ đó đã có cơ sở để xác định tổng số tiền hụi bà H còn nợ bà L đối với 05 dây hụi ngày 30/9/2017, ngày 20/7/2017, ngày 20/12/2017, ngày 05/7/2018 và 10/7/2018 (ngày âm lịch) là 46.175.000 đồng.

Đối với ông D là chồng của bà H, mặc dù không trực tiếp tổ chức các dây hụi trên nhưng theo bà L thì ông D là người thu tiền hụi của bà góp cho bà H; đồng thời, ông D cũng tự nguyện cùng bà H trả số tiền hụi mà bà H còn nợ bà L. Do đó, cần buộc ông D liên đới chịu trách nhiệm cùng bà H trả cho bà L số tiền 46.175.000 đồng là phù hợp quy định điều 27 Luật Hôn nhân gia đình.

Đối với bà Lê Thị X, bà Ngô Thị Hồng Th và bà Nguyễn Kim T có tham gia một số dây hụi cùng với bà L nhưng các đương sự không có yêu cầu gì trong vụ án này. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Từ những phân tích và đánh giá nêu trên cho thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà L được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên ông D, bà H phải chịu án phí theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Bà L được nhận lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Điều 357, Điều 468 và Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L đối với bà Nguyễn Thị Bé H và ông Lê Hồng D.

Buộc bà Nguyễn Thị Bé H và ông Lê Hồng D liên đới chịu trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền 46.175.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu, một trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì phải trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả với mức lãi suất được quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Nguyễn Thị Bé H và ông Lê Hồng D phải nộp số tiền 2.309.000 đồng (Hai triệu ba trăm lẻ chín nghìn đồng).

- Bà Nguyễn Thị L được nhận lại số tiền 1.600.000 đồng (Một triệu sáu trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 010778 ngày 16/01/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt được quyền kháng cáo. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ