vanban.org

Bản án 13/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V đối với bị đơn bà Lê Thị Kim N về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Buộc bà Lê Thị Kim N có trách nhiệm thanh toán cho Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V tổng số tiền 40.993.000 đồng, trong đó nợ gốc là 26.960.702 đồng, nợ lãi là 14.032.298 đồng. Tiền lãi phát sinh kể từ ngày 16/5/2020 được tính theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Cong ty tai chinh TNHH MTV Ngân hàng V-Lê Thị Kim N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V đối với bị đơn bà Lê Thị Kim N về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:13/2020/DS-ST
Ngày:15-5-2020
V/v tranh chấp hợp đồng tín
dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Lâm

2. Ông Võ Hùng Dương

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 29/2020/TLST-DS ngày 13 tháng 01 năm 2020 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2020/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V; Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà R, Số 9 đường Đ, phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp bà Trần Thị T, sinh năm 1996; Địa chỉ: Số 48 đường N, phường Đ, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, là đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 04/12/2019), vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Bà Lê Thị Kim N, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số 7/63 đường ĐX 145 Khu phố N, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần Bảo hiểm V. Địa chỉ trụ sở: Số 19 đường P, phường Đ, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Đặng Diệp Đại K – Tổng giám đốc, là người đại diện theo pháp luật, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn trình bày:

Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V và bà Lê Thị Kim N đã ký Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20151226-500000-1059 ngày 26/12/2015. Số tiền vay là 32.920.943đồng (ba mươi hai triệu chín trăm hai mươi nghìn chín trăm bốn mươi ba đồng), thời hạn vay là 27 tháng, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất 4,58%/tháng (tương đương 54,96%/năm). Tổng số tiền bà N có trách nhiệm thanh toán cho Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V là 58.189.000 đồng, cụ thể: 26 tháng đầu mỗi tháng 2.151.000 đồng, tháng cuối cùng là 2.263.000 đồng.

Ngày 21/6/2016, Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V đã giải ngân số tiền 32.920.943đồng cho bà N. Bà Lê Thị Kim N đã thanh toán một phần nợ gốc và lãi cho Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V với tổng số tiền là 17.196.000 đồng. Từ sau ngày 01/9/2016 cho đến nay, bà N không thanh toán dư nợ còn lại cho Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V. Do bà N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương yêu cầu bà Lê Thị Kim N thanh toán cho Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V tổng số tiền tính đến ngày 02/3/2020 là 40.993.000 đồng, trong đó nợ gốc là 26.960.702 đồng, nợ lãi là 14.032.298 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán hết nợ.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn bà Lê Thị Kim N nhưng bà N không đến Tòa án tham gia tố tụng, không gửi văn bản có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Bà Lê Thị Kim N có tham gia bảo hiểm tại Bảo hiểm V theo thông tin bảo hiểm Dư nợ tín dụng cá nhân số 20151226-500000-1059, thời hạn bảo hiểm kể từ ngày Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V giải ngân (30/12/2015 đến ngày 01/4/2018). Phí bảo hiểm trong trường hợp này là 1.716.158 đồng và đã được Ngân hàng thay mặt khách hàng thanh toán cho Bảo hiểm V vào ngày 30/12/2015.

Theo thỏa thuận cũng như Quy tắc bảo hiểm, trong thời hạn bảo hiểm, Bảo hiểm V sẽ chi trả cho người thụ hưởng nếu sự kiện bảo hiểm xảy ra không thuộc điểm loại trừ và thuộc một trong các trường hợp sau đây: Người được bảo hiểm tử vong (ngày cấp giấy chứng tử); Người được bảo hiểm bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn (ngày cấp chứng nhận thương tật toàn bộ vĩnh viễn); Người được bảo hiểm bị mất tích (ngày người được bảo hiểm bị tuyên bố mất tích trong quyết định của Tòa án).

Đến thời điểm hiện nay, Bảo hiểm V chưa nhận được bất kỳ thông báo nào từ người được bảo hiểm và/hoặc người thụ hưởng về việc đã phát sinh sự kiện bảo hiểm thuộc một trong các trường hợp trên. Vì vậy, không phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của Bảo hiểm V theo Hợp đồng bảo hiểm cũng như Hợp đồng tín dụng nêu trên.

Đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng về nghĩa vụ trả nợ vay của bà Lê Thị Kim N. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền còn nợ do bị đơn khbà thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Bảo hiểm V không có quyền lợi và/hoặc nghĩa vụ liên quan tới tranh chấp về Hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn và bị đơn.

Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt. Tuy nhiên, đại diện nguyên đơn có văn bản trình bày ý kiến, yêu cầu bà Lê Thị Kim N thanh toán cho Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V tổng số tiền là 40.993.000 đồng, trong đó nợ gốc là 26.960.702 đồng, nợ lãi là 14.032.298 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán hết nợ. Bị đơn bà Lê Thị Kim N vắng mặt không có lý do. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Bảo hiểm V có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến:

+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật. Vụ án được đưa ra xét xử đúng thời hạn theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định tại chương XIV về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo các Điều 70, 71, 73 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.

+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị Kim N thanh toán tiền nợ gốc và lãi theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20151226-500000-1059 ngày 26/12/2015. Bị đơn có nơi cư trú tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là loại việc về tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Về sự tham gia phiên tòa của các đương sự: Bị đơn bà Lê Thị Kim N đã được tống đạt đúng quy định pháp luật nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Đại diện nguyên đươn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Bảo hiểm V có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xét thấy, ngày 26/12/2015, bà Lê Thị Kim N xác lập hợp đồng tín dụng theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20151226-500000-1059 ngày 26/12/2015 với Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V để vay số tiền 32.920.943đồng (ba mươi hai triệu chín trăm hai mươi nghìn chín trăm bốn mươi ba đồng). Bà N đã nhận số tiền 32.920.943đồng vào ngày 26/12/2015 và đóng phí bảo hiểm số tiền 1.716.258 đồng vào ngày 30/12/2015. Xét, Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20151226-500000-1059 ngày 26/12/2015 giữa Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V và bà Lê Thị Kim N thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận của hai bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải tôn trọng thực hiện. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V đã giải ngân số tiền 32.920.943 đồng cho bà N. Bà N đã thanh toán cho Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V tổng số tiền là 17.196.000 đồng. Do bà N vi phạm nghĩa vụ thanh toán kể từ ngày 01/9/2016 nên Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V khởi kiện yêu cầu bà N thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng với số tiền là 40.993.000 đồng, trong đó nợ gốc là 26.960.702 đồng, nợ lãi là 14.032.298 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán hết số nợ nêu trên theo quy định tại hợp đồng đã ký kết là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một là có cơ sở.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bà Lê Thị Kim N phải chịu án phí đối với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận là 40.993.000 đồng, tương đương số tiền án phí 40.993.000 đồng x 5% = 2.050.000 đồng. Ngân hàng không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, Điều 95 và Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ N Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V đối với bị đơn bà Lê Thị Kim N về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Buộc bà Lê Thị Kim N có trách nhiệm thanh toán cho Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V tổng số tiền 40.993.000 đồng, trong đó nợ gốc là 26.960.702 đồng, nợ lãi là 14.032.298 đồng.

Tiền lãi phát sinh kể từ ngày 16/5/2020 được tính theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa bà Lê Thị Kim N và Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V cho đến khi bà Lê Thị Kim N thi hành án xong.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Lê Thị Kim N phải nộp số tiền 2.050.000đồng (Hai triệu không trăm năm mươi nghìn đồng). Hoàn trả cho Công ty tài chính TNHH MTV Ngân hàng V số tiền 1.025.000đồng (Một triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0041317 ngày 31/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ