- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạm"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Hỷ Ngọc S đối với chị Tái Thị H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2020/DS-ST Ngày 10-7-2020 V/v:“Yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạm" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Anh
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Xuân Thùy
2. Bà Hoàng Thị Hiền
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Nhu là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp tham gia phiên tòa: Ông Phan Minh Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 226/2020/TLST-DS ngày 18-12-2019, về việc: “Yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạm”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 226/2019/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 12 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Hỷ Ngọc S, sinh năm 2000 – Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Hoàng Thị P– Có mặt
Cùng nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Đắk Nông
2. Bị đơn: Bà Tái Thị H, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Đắk Nông – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Ngày 15 tháng 12 năm 2018 anh Hỷ Ngọc S bị chị Tái thị H dùng dao chém vào mu bàn chân với tỷ lệ thương tật là 4%. Hành vi cố ý gât thương tích của bà H đã được làm rõ tại Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2019/HS-ST ngày 23-8-2019 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’lấp. Tuy nhiên từ khi gây thương tích đến nay bà H vẫn không chịu bồi thường thiệt hại cho anh S. Nay tôi yêu cầu bà Tái Thị H phải bồi thường thiệt hại cho anh Hỷ Ngọc S tổng số tiền là 29.229.898 đồng, gồm các khoản tiền sau:
- Chi phí chữa trị hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe gồm:
+ Tiền thuê xe đi bệnh viện (03 lần) là: 240.000đ;
+ Tiền chi phí chữa trị đợt 1 là 738.928 đồng;
+ Tiền chi phí chữa trị đợt 2 là 5.600.970 đồng;
+ Tiền chi phí chữa trị đợt 3 là 190.000 đồng;
- Thu nhập thực tế bị mất trong thời gian 14 ngày là: 14 ngày x 180.000đ = 2.520.000 đồng;
- Tiền công người chăm sóc trong thời gian nằm viện 14 ngày là: 14 ngày x 180.000đ = 2.520.000 đồng;
- Tiền ăn của người chăm sóc và anh S trong thời gian năm điều trị 14 ngày là: 14 ngày x 60.000đ/02 người = 2.520.000 đồng;
- Tiền tổn thất tinh thần là 14.900.000 đồng
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Tái Thị H trình bày: Ngày 15/12/2018 anh Hứa Văn N và anh Hỷ Ngọc S đến nhà tôi ở thôn A, xã B chơi thì phát sinh mâu thuẫn với anh Đỗ Văn S, thì N có dùng dao chém vào mặt của anh S, tôi có căn ngăn nhưng khi thấy anh S chạy vào tôi có dùng dao quơ mục đích không cho anh S, anh N đánh anh S thì có trúng vào chân của anh S gây thương tích. Nay anh S yêu cầu tôi phải bồi thường số tiền là 29.229.898 đồng, tôi không đồng ý bồi thường số tiền này vì anh S, anh N vô cơ vào nhà tôi đánh anh S tôi chỉ can ngăn và phòng vệ chính đáng.
Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên quan điểm không đồng ý bồi thường cho bị đơn.
Phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã xác định đúng thẩm quyền giải quyết vụ án theo Điều 26, 35 và 39 BLTTDS; đúng tư cách tham gia tố tụng quy định tại Điều 68 BLTTDS; Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các Điều từ 93 đến 97 BLTTDS; Việc giao nhận thông báo thụ lý cho VKS và cho đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196 BLTTDS.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa ngày hôm nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Còn bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 6 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 91, 92, 227, 228 BLTTDS; Điều 584, 585, 586 và 590 của BLDS, tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền 11.152.000đồng.
Không chấp nhận các khoản tiền Bảo hiểm y tế đã thanh toán; tiền ăn của người bị hại, người chăm sóc do không phù hợp quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ pháp luật: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải bồi thường số tiền 29.229.898 đồng do bị thiệt hại về sức khỏe. Theo quy định của pháp luật đây là Yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm quy định tại khoản 6 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về thẩm quyền: Bị đơn chị Tái Thị H hiện cư trú tại thôn A, xã B, huyện C nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về sự vắng mặt của bị đơn: Chị Tái Thị H vắng mặt tại phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án chị H có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.
. Về nội dung: Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của anh Hỷ Ngọc S yêu cầu chị Tái Thị H bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm với số tiền 29.229.898 đồng như đã trình bày và ý kiến của chị H không đồng ý bồi thường cho anh S với lý do anh S vào nhà đánh người trong nhà của chị H và chị H chỉ là can ngăn và phòng vệ chính đáng. Cho nên chị không có nghĩa vụ bồi thường. Tuy nhiên, thương tích của anh S là do chị H gây ra và đã được làm rõ trong vụ án hình sự được thể hiện qua nội dung Bản án hình số 47/2019/HS-ST ngày 23-8-2019 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’lấp nên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu phản đối của chị H.
Đối với yêu cầu của của anh S, Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận những khoản sau:
+ Tiền thuê xe đi bệnh viện (03 lần) là: 240.000đồng;
+ Tiền chi phí khám bệnh, chữa bệnh là: 272.000đồng (người bệnh chi trả);
+ Tiền mất thu nhập của người bị hại từ ngày 15/12/2018 đến ngày 18/12/2018 và từ ngày 25/12/2018 đến ngày 02/01/2019 là 13 ngày x 180.000đồng = 2.340.000đồng.
+ Tiền mất thu nhập của 01 người chăm sóc từ ngày 15/12/2018 đến ngày 18/12/2018 và từ ngày 25/12/2018 đến ngày 02/01/2019 là 13 ngày x 180.000đồng/1 người = 2.340.000đồng.
+ Tiền tổn thất tinh thần 04 tháng lương tối thiểu: 1.490.000đồng x 04 tháng = 5.960.000đồng
Tổng cộng: 11.152.000đồng
Không chấp nhận những khoản sau: Tiền chi phí khám bệnh, chữa bệnh là: 6.257.898 đồng, do số tiền này đã được Bảo hiểm y tế chi trả, người bị hại không phải thanh toán; Tiền ăn của người bị hại và người chăm sóc trong thời gian điều trị là: 2.520.000đồng, không có căn cứ là phù hợp quy định của pháp luật; Tiền mất thu nhập của 02 người chăm sóc, chỉ chấp nhận 01 người.
. Xét quan điểm và đường lối xử lý của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
. Về án phí: Chị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 584, 585, 586 và 590 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Hỷ Ngọc S đối với chị Tái Thị H.
Buộc chị Tái Thị H phải bồi thường cho anh Hỷ Ngọc S số tiền là 11.152.000đồng .
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày người có đơn yêu cầu thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí: Buộc chị Tái Thị H phải nộp 557.600 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk R’Lấp; - Chi cục THADS huyện C; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký và đóng dấu) Trần Ngọc Anh |