- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương... — án lao động — "Nguyễn Văn Tr tranh chấp tiền lương với Công ty cổ phần mía đường H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông guy n Văn Tr tranh chấp “Đòi tiền lương” đối v i Công ty cổ phần mía đường H.
- Căn cứ chính? Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN Bản án số: 13 /2019/LĐ-ST Ngày: 05-3-2019 “V/v: T/c đòi tiền lương” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông guy n h c Linh Duy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà guy n Thị Rạt - Cán bộ hưu trí;
2. Ông guy n Chí Lin - Cán bộ hưu trí;
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thanh Tú - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa: Ông guy n Văn Còn - iểm sát viên.
gày 05 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý 186/2018/TLST-LĐ ngày 22 tháng 10 năm 2018 về việc: “Đòi tiền lương” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2019/QĐXXST-LĐ ngày 31 tháng 01 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông guy n Văn Tr, sinh năm 1966. (Có mặt)
Địa chỉ: khu vực 1, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Công ty cổ phần mía đường H;
Địa chỉ trụ sở: hu vực 1, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
gười đại diện theo pháp luật: Ông NKB – Chức danh: Chủ tịch Hội đồng quản trị. (V ng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 02/11/2018 và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Văn Tr trình bày: Ông guy n Văn Tr b t đầu làm việc cho Công ty cổ phần mía đường H (sau đây gọi t t là Công ty mía đường) từ tháng 12 năm 2002. Quá trình làm việc, ông Tr tham gia đầy đủ các chế độ như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Tuy nhiên, từ tháng 01/2016 đến nay thì Công ty mía đường ngưng hoạt động, không ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động, không thanh toán tiền lương, không giải quyết chế độ bảo hiểm cho người lao động. ay ông Tr khởi kiện Công ty mía đường trả cho ông Tr các khoản tiền như sau:
- Tiền lương tháng 01 và tháng 02 năm 2016 là 2.799.300đồng (1) (trong đó lương tháng 01 năm 2016 là 1.083.800đồng; lương tháng 02 năm 2016 là 1.715.500đồng).
- Tiền lương ngừng việc từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 6 năm 2017 là 12 tháng x 3.100.000đồng = 37.200.000đồng (2)
Tổng số tiền mà ông guy n Văn Tr yêu cầu Công ty cổ phần mía đường H phải chi trả là (1) + (2): 39.999.300đồng.
Tại phiên tòa nguyên đơn ông guy n Văn Tr có rút một phần yêu cầu khởi kiện liên quan đến đòi nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp thôi việc, không cung cấp thêm chứng cứ gì khác.
Đối v i bị đơn Công ty cổ phần mía đường H: Sau khi thụ lý, Tòa án đã tiến hành triệu tập và tống đạt hợp lệ nhưng Công ty cổ phần mía đường H vẫn v ng mặt và không có ý kiến trình bày vì vậy không thể tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa người đại diện cho Công ty cổ phần mía đường H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng v ng mặt, nên Tòa án tiến hành xét xử v ng mặt Công ty cổ phần mía đường H theo qui định khoản 2 Điều 227 BLTTDS năm 2015.
Quan điểm của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án theo qui định tại Điều 262 BLTTDS năm 2015:
Về thủ tục: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã đưa đúng và đầy đủ người vào tham gia tố tụng, việc thu thập chứng cứ và điều tra vụ án được tiến hành khách quan, đúng pháp luật; không có đương sự khiếu nại trong quá trình giải quyết vụ án. Tham gia trực tiếp tại phiên tòa xét thấy các bên đương sự và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng qui định pháp luật. Tại phiên tòa nguyên đơn xác định rõ yêu cầu khởi kiện, bị đơn v ng mặt, đã được tống đạt hợp lệ; không có yêu cầu phản tố; các bên không cung cấp thêm chứng cứ gì khác.
Về nội dung vụ án: guyên đơn ông guy n Văn Tr khởi kiện và chứng minh được có tham gia làm việc cho Công ty cổ phần mía đường H từ tháng 12 năm 2002 đến nay. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông guy n Văn Tr, buộc Công ty cổ phần mía đường H trả cho ông Tr tiền nợ lương tháng 01, 02 năm 2016; trả tiền lương ngừng việc 12 tháng, tổng số tiền 39.999.300đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
au khi nghiên c u các tài liệu c trong h sơ v án đư c thẩm tra tại phiên tòa và căn c vào k t qu t h i tại phiên tòa Hội đ ng t nh n định:
. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền gi i quy t: Theo đơn khởi kiện ngày 02/11/2018, nguyên đơn ông guy n Văn Tr khởi kiện Công ty cổ phần mía đường H đòi tiền nợ lương, tiền lương chờ việc, tiền trợ cấp thôi việc. Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là còn trong thời hiệu khởi kiện và xác định quan hệ tranh chấp “Đòi tiền lương” việc thụ lý là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 35, Điều 186 BLTTDS năm 2015.
. Về tố t ng:
. Về điều kiện khởi kiện: ông guy n Văn Tr khởi kiện “Đòi tiền lương” đối v i Công ty cổ phần mía đường H. Tranh chấp được các cơ quan quản lý lao động huyện Đức Hòa tổ chức hòa giải tại biên bản ngày 22/10/2018, tranh chấp đã thực hiện thủ tục hòa giải trư c khi khởi kiện là thực hiện theo đúng thủ tục quy định tại Điều 201 của Bộ luật lao động. Do đó, ông guy n Văn Tr có quyền khởi kiện tranh chấp lao động tại Tòa án theo quy định tại Điều 32, Điều 189 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về sự v ng mặt của bị đơn: Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng cho Công ty cổ phần mía đường H nhưng Công ty cổ phần mía đường H không có ý kiến phản hồi và không tham gia hòa giải, v ng mặt tại phiên tòa nên Tòa án xét xử v ng mặt bị đơn theo theo qui định khoản 2 Điều 227 BLTTDS năm 2015.
. Về nội dung:
. Xét yêu cầu khởi kiện và các chứng cứ chứng minh của nguyên đơn:
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông guy n Văn Tr cho rằng: Ông Tr b t đầu vào làm việc tại Công ty cổ phần mía đường H từ tháng 12 năm 2002 đến nay. Tuy nhiên, từ tháng 01/2016 đến nay Công ty mía đường ngưng hoạt động nhưng không ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động, còn nợ một phần tiền lương tháng 01 và tháng 02 năm 2016, không trả tiền lương chờ việc từ tháng 01/2016 đến nay. ay ông Tr khởi kiện yêu cầu trả tiền lương tháng 01 năm 2016 là 1.083.800đồng, lương tháng 02 năm 2016 là 1.715.500đồng, tổng số tiền nợ lương là 2.799.300đồng. Đồng thời, yêu cầu trả tiền lương ngừng việc nhưng chỉ lấy 12 tháng (từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 6 năm 2017) x 3.100.000đồng = 37.200.000đồng .
. Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ vào Công văn số 2487/BHXH-QLT và Bảng kê quá trình đóng Bảo hiểm của người lao động khởi kiện của Bảo hiểm xã hội tỉnh Long An cung cấp ngày 06/11/2018; các tài liệu, chứng cứ đã thu thập và di n biến tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử có căn cứ xác định:
Ông guy n Văn Tr có tham gia làm việc theo hợp đồng lao động tại Công ty cổ phần mía đường H từ tháng 12 năm 2002 nên hai bên có xác lập quan hệ lao động. Từ tháng 01 năm 2016 đến nay, Công ty mía đường ngưng hoạt động nhưng không ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động đối v i ông Tr và còn nợ một phần tiền lương tháng 01 và tháng 02 năm 2016 là 2.799.300đồng, không thanh toán tiền lương chờ việc.
Từ đó, thấy: Qua các tài liệu chứng cứ đã thu thập, Bảng kê chi tiết nợ lương đến hết tháng 6 năm 2017, Công số 2487/BHXH-QLT ngày 06/11/2018 của Bảo hiểm xã hội tỉnh Long An thì có căn cứ xác định Công ty cổ phần mía đường H đã dừng hoạt động từ tháng 01 năm năm 2016, chính thức từ ngày 14/7/2017 bị Cục thi hành án tỉnh Long An kê biên, niêm phong toàn bộ tài sản để thi hành án nhưng công ty không làm thủ tục thông báo tạm dừng hoạt động đến cơ quan quản lý lao động có thẩm quyền trong tỉnh và không giải quyết nợ lương, các chế độ cho người lao động. Do đó, người lao động guy n Văn Tr khởi kiện yêu cầu Công ty
(1) trả nợ lương tháng 01 và tháng 02 năm 2016 v i số tiền 2.799.300đồng là có căn cứ.
Đối v i yêu cầu Công ty mía đường thanh toán tiền lương ngừng việc của ông guy n Văn Tr: Tại khoản 3 Điều 98 Bộ luật lao động quy định “…tiền lương ngừng việc do hai bên tho thu n nhưng không đư c thấp hơn m c lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định”. Căn cứ Điều 3 ghị định 122/2015/ Đ-CP ngày 14/11/2015 của Chính Phủ và Phụ lục kèm theo quy định mức lương tối thiểu vùng đối v i người lao động làm việc ở doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có sử dụng lao động theo hợp đồng lao động thuộc địa bàn các tỉnh thuộc vùng II thì áp dụng mức lương tối thiểu là 3.100.000đồng/tháng. Do đó, HĐXX xác định do ông guy n Văn Tr làm việc không xác định thời hạn cho Công ty mía đường H. Quá trình ngừng việc từ tháng 6 năm 2016 đến nay là do lỗi của người sử dụng lao động gây ra nên Công ty phải có trách nhiệm trả lương ngừng việc cho người lao động theo Điều 98 Bộ luật lao động. Xét ông Tr chỉ yêu cầu 12 tháng lương ngừng việc là thấp hơn thời gian ngừng việc thực tế, thấp hơn mức lương của ông Tr thực nhận nên ông Tr yêu cầu Công ty mía đường thanh toán tiền lương ngừng việc từ tháng 06 năm 2016 đến
(2) tháng 06 năm 2017 là 12 tháng x 3.100.000đồng, tương đương 37.200.000đồng là phù hợp và có lợi cho bị đơn nên ghi nhận.
Do đó, người lao động guy n Văn Tr khởi kiện yêu cầu Công ty trả nợ lương và thanh toán 12 tháng tiền lương chờ việc là phù hợp qui định tại Điều 96, Điều 98 Bộ luật lao động năm 2012 nên có căn cứ chấp nhận.
1) (2)
Tổng số tiền Công ty mía đường H phải trả cho ông guy n Văn Tr ( +
là 39.999.300đồng.
Xét quan điểm của iểm sát viên đề nghị là phù hợp nên ghi nhận.
Việc bị đơn Công ty cổ phần mía đường H v ng mặt tại các phiên hòa giải, không có ý kiến trình bày bằng văn bản c ng như v ng mặt tại phiên tòa nên không có cung cấp tài liệu chứng cứ gì nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét quan điểm của Công ty cổ phần mía đường H.
Đối v i yêu cầu đòi nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiền cơm, tiền độc hại: ông guy n Văn Tr rút yêu cầu này để giải quyết trong vụ án khác là phù hợp nên HĐXX đình chỉ yêu cầu này.
.Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 ghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án buộc Công ty cổ phần mía đường H phải chịu án phí LĐST sung công qu nhà nư c.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 32, Điều 35, Điều 184, Điều 186, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 48, Điều 96, Điều 98 Bộ luật lao động năm 2012;
Căn cứ Điều 3 ghị định 122/2015/ Đ-CP ngày 14/11/2015 và Phụ lục kèm theo;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông guy n Văn Tr tranh chấp “Đòi tiền lương” đối v i Công ty cổ phần mía đường H.
- Buộc Công ty cổ phần mía đường H trả tiền nợ lương tháng 01, lương tháng 02 năm 2016 cho ông guy n Văn Tr là 2.799.300đồng.
- Buộc Công ty cổ phần mía đường H trả tiền lương ngừng việc cho ông guy n Văn Tr từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 6 năm 2017 v i số tiền là 37.200.000đồng.
Tổng số tiền Công ty cổ phần mía đường H phải trả cho ông guy n Văn Tr là 39.999.300đồng. (Ba mươi chín triệu chín trăm chín mươi chín ngàn ba trăm đồng).
ể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối v i các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) bên có nghĩa vụ chưa thi hành xong số tiền trên thì còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015 tương ứng v i số tiền và thời gian chưa thi hành, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông guy n Văn Tr về đòi nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
3. Về án phí: Buộc bị đơn Công ty cổ phần mía đường H phải nộp 1.199.979đồng án phí lao động sơ thẩm sung công qu hà nư c. Công ty cổ phần mía đường H chưa nộp.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo xin xử phúc thẩm. Riêng bị đơn v ng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự - V S D huyện - TA D tỉnh Long An - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn h c Linh Duy |