vanban.org

Bản án 13/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 28/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Giàng A M, Lò A D phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A M và đồng phạm, phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Giàng A M, Lò A D phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự năm Áp dụng điểm h; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÁT XÁT
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13 /2019/HSST
Ngày 28 tháng 02 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Duy Chiến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Nguyễn Trung Dong;

2. Bà: Phạm Thị Hòa;

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Minh Lý – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xét xử công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2019/HSST ngày 30 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2019/HSST ngày 14 tháng 02 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Giàng A M (tên gọi khác: không). Sinh năm 1996 (không xác định được ngày tháng sinh). Nơi sinh: Huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai; Giới tính: Nam. Nơi đăng ký hộ khẩu và nơi ở: Thôn T, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai. Dân tộc: H’Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không. Trình độ văn hóa: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Con ông: Giàng A Lử và bà Giàng Thị Chí. Nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, chưa có tiền sự. Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 09 tháng 12 năm 2018, tạm giam ngày 15 tháng 12 năm 2018. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

2. Họ và tên: Lò A D (tên gọi khác: không). Sinh năm 1999 (không xác định được ngày tháng sinh). Nơi sinh: Huyện B, tỉnh Lào Cai. Giới tính: Nam. Nơi đăng ký hộ khẩu và nơi ở: Thôn T, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai. Dân tộc: H’Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không. Trình độ văn hóa: 02/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, chưa có tiền sự . Con ông: Lò A Lử và bà: Giàng Thị Sẩu.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 05 tháng 12 năm2018, tạm giam ngày 14 tháng 12 năm 2018. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà Tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Giàng A M: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Trợ giúp viên, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Lò A D: Bà Cù Thúy Minh - Trợ giúp viên, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt

Bị hại: Anh Đinh Chí Cường;

Địa chỉ; Thôn A, xã Q, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 02/11/2018, Giàng A M, Lò A D và Giàng A T đến xã B, huyện B để làm thuê, bốc vác. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày do không kiếm được việc làm nên Giàng A M đã nẩy sinh ý định đi xuống bờ Sông Hồng thuộc thôn An Quang, xã Quang Kim, huyện Bát Xát trộm cắp bình Ắc quy trên thuyền đang neo đậu tại đó để bán lấy tiền tiêu sài, Giàng A M rủ Lò A D và Giàng A T cùng thực hiện, Dũng và Tăng đồng ý, sau đó Giàng A M đi mua 02 lưỡi cưa sắt, đưa cho Tăng cầm 01 lưỡi cưa, Mình cầm 01 lưỡi cưa, rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, biển kiểm soát 24B2 – 095.69 của Mình chở Lò A D, còn Giàng A T tự đi xe của Tăng, đi xuống bờ Sông Hồng thuộc thôn An Quang, xã Quang Kim, khi đi đến nơi, Giàng A M và Giàng A T cất dấu xe mô tô vào bụi tre gần bờ Sông Hồng, tại đây Giàng A M và Giàng A T và Lò A D cùng nhìn thấy có 03 con thuyền sắt đang neo đậu ở sát bờ sông không có người trông coi, Giàng A M bảo Lò A D đứng ở trên bờ để cảnh giới, Mình và Tăng cầm theo cưa đi xuống thuyền, Mình đi vào thuyền thứ nhất ngay sát bờ còn Tăng đi vào thuyền thứ hai bên cạnh, Mình đi xuống cuối thuyền, dùng chiếc điện thoại di động OPPO màu đen của mình để soi tìm ổ khóa và dùng cưa sắt mang theo để cắt, sau khi cắt xong ổ khóa, Mình chui vào khoang lái tháo 02 bình ắc quy ra khỏi vị trí đấu nối điện, sau đó Mình gọi Dũng xuống dưới thuyền cùng mình mỗi người vác 01 bình ắc quy lên bờ để cạnh chỗ dấu xe mô tô, rồi Mình và Dũng tiếp tục đi đến chiếc thuyền thứ hai thì thấy Giàng A T đã cắt xong ổ khóa nắp đậy khoang thuyền và thấy 03 bình ắc quy đã được Tăng tháo ra để ở phía ngoài gần kệ máy rồi Mình, Dũng và Tăng mỗi người vác một bình ắc quy lên bờ để ở cạnh chỗ dấu xe mô tô. Sau khi vác được ắc quy lên bờ, Mình, Dũng và Tăng tiếp tục đi xuống chiếc thuyền thứ ba ngay bên cạnh. Mình đưa cho Dũng chiếc điện thoại OPPO của mình để Dũng soi cho Mình và Tăng cắt ổ khóa, sau khi cắt xong Mình và Tăng chui vào khoang lái tháo 03 bình ắc quy ra rồi mỗi người vác 01 bình lên trên bờ đến chỗ để xe, sau đó Mình bảo với Dũng và Tăng là mỗi xe chở 04 bình, sau đó Giàng A T chở 04 bình đi tiêu thụ. Giàng A M và Lò A D chở 04 bình đem bán cho Nguyên Văn Quê, sinh năm 1981, ở thôn 3, xã Bản Vược, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai với giá 1.600.000 (một triệu sáu trăm nghìn) đồng, sau khi bán được tiền Mình chia cho Dũng số tiền 700.000 (bảy trăm nghì) đồng, phần Giàng A M còn lại 900.000 (chín trăm nghìn) đồng. Sau đó Mình chở Dũng về nhà và đã tiêu sài cá nhân hết số tiền do bán ắc quy mà có. Đến rạng sáng ngày 05/12/2018, Giàng A M và Lò A D tiếp tục đi xuống thôn An Quang để tìm tài sản để trộm cắp thì bị tổ công tác Công an xã Quang Kim phát hiện và bắt giữ được Lò A D và tạm giữ chiếc xe nhãn hiệu ESPERO, màu đỏ đen, biển kiểm soát 24B2 – 095.69. Đến ngày 09/12/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra đã bắt khẩn cấp đối với Giàng A M.

Căn cứ vào tài liệu điều tra ngày 07/12/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Bát Xát đã quyết định trưng cầu định giá tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án. Tại kết luận định giá tài sản số 21 ngày 11/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản huyện Bát Xát, kết luận:

- 04 (bốn) bình ắc quy nước, nhãn hiệu GS loại 100A thân bình màu trắng, có nắp nhựa màu xanh, đã qua sử dụng trị giá còn lại: 1.600.000đ.

- 03(ba) bình ắc quy nước, nhãn hiệu GS loại 150A thân bình màu trắng, có nắp nhựa màu xanh, đã qua sử dụng trị giá còn lại: 1.950.000đ.

- 01(một) bình ắc quy nước, nhãn hiệu ENIMAC loại 150A thân bình màu trắng, có nắp nhựa màu đen, đã qua sử dụng trị giá còn lại: 650.000đ.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 4.200.000đ.

Bản cáo trạng số 13/KSĐT ngày 28 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát truy tố các bị cáo Giàng A M, Lò A D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại phiên tòa bị cáo đã nhận tội, như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Giàng A M, Lò A D đã có hành vi Trộm cắp tài sản. Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như bản cáo trạng.

Đề nghị hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Giàng A M phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên phạt bị cáo Giàng A M từ 7 (bảy) tháng đến 9 (chín) tháng tù.

Tuyên bố bị cáo Lò A D phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên phạt bị cáo Lò A D từ 6 (sáu) tháng đến 7 (bảy) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự, buộc các bị cáo Giàng A M và Lò A D phải liên đới bồi thường cho bị hại anh Đinh Chí Cường giá trị tài sản bị thiệt hại do hành vi trộm cắp của các bị cáo gây ra là 4.200.000 đồng (bốn triệu hai trăm nghìn đồng).

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Sửa đổi bổ sung năm 2017. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu, nộp ngân sách nhà nước chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 24B2- 095.69, giấy đăng ký măng tên Giàng A M, do Công an tỉnh Lào Cai cấp ngày 21/01/2017.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo qui định pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Giàng A M có quan điểm: Tuyên bố bị cáo Giàng A M phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên phạt bị cáo Giàng A M 6 (sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Lò A D có quan điểm: Tuyên bố bị cáo Lò A D phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên phạt bị cáo Lò A D 6 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Cốc Mỳ, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tại phiên Tòa bị cáo Giàng A M, Lò A D thành khẩn khai báo, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử, xử mức án nhẹ nhất để sớm về đoàn tụ gia đình.

Tại phiên tòa bị hại anh Đinh Chí Cường vắng mặt, tại đơn xin xét xử vắng mặt và các bản khai tại cơ quan điều tra, anh Đinh Chí Cường yêu cầu các bị cáo Giàng A M và Lò A D liên đới bồi thường giá trị tài sản bị xâm hại là 4.200.000 đồng (bốn triệu hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà hôm nay bị cáo Giàng A M, Lò A D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác đã có trong hồ sơ.

Do không kiếm được việc làm nên Giàng A M đã nảy sinh ý định trộm cắp bình ắc qui để bán lấy tiền tiêu sài, Giàng A M rủ Lò A D và Giàng A T cùng thực hiện, Dũng và Tăng đồng ý, sau đó Giàng A M đi mua 02 lưỡi cưa sắt, đưa cho Tăng cầm 01 lưỡi cưa, Mình cầm 01 lưỡi cưa, rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, biển kiểm soát 24B2 – 095.69 của Mình chở Lò A D, còn Giàng A T tự đi xe của Tăng, đi xuống bờ Sông Hồng thuộc thôn An Quang, xã Quang Kim, lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản, Giàng A M và Giàng A T đã lên 03 con thuyền không có người trông coi,Lò A D là người cảnh giới, lén lút trộm cắp 8 bình ắc qui, sau đó Giàng A T chở 04 bình, Giàng A M và Lò A D chở 04 bình đi tiêu thụ. Như vậy Giàng A M, Giàng A T và Lò A D đã có hành vi trộm cắp tài sản, đo đó các bị cáo phải tội phạm và khung hình phạt được qui định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, tài sản các bị cáo trộm cắp có tổng giá trị 4.200.000 VNĐ (bốn triệu hai trăm nghìn đồng); Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát truy tố các bị cáo Giàng A M, Lò A D theo khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng pháp luật.

Đối với Giàng A T, sau khi trộm cắp được tài sản Giàng A T đã mang 04 bình ắc quy đi tiêu thụ. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được Giàng A T đang cư trú ở đâu. Do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý trong vụ án này, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

Xét hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sỡ hữu hợp pháp tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an ở địa phương .

Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn;

Bị cáo Giàng A M là người khởi xướng việc trộm cắp tài sản, chuẩn bị công cụ phạm tội, tự mình chuẩn bị công cụ và là người thực hành tích cực, do đó Giàng A M phải là người giữ vai trò chính trong vụ án.

Đối với bị cáo Lò A D là người sau khi được Mình rủ đi trộm cắp tài sản Lò A D đã nhất trí tham gia và đứng cảnh giới cho Giàng A M thực hiện hành vi trộm cắp. Vì vậy, Lò A D phải chịu trách nhiệm với vai trò đồng phạm là người giúp sức trong vụ án.

Xét về nhân thân bị cáo:

Đối với Giàng A M và Lò A D chưa có tiền án, tiền sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, khi phạm tội gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đối với bị cáo Lò A D là người dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa học hết lớp 2, sự hiểu biết pháp luật có hạn chế, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy không cần bắt chấp hành hình phạt tù, áp dụng khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ trở thành công dân có ích cho xã hội. Áp dụng khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về tội phạm khác.

Đối với anh Nguyễn Văn Quê là người đã mua 04 (bốn) ắc quy, trong đó 03 bình ắc quy nhãn hiệu GS loại 100A, 01 bình ắc quy nhãn hiêu GS loại 150A do Giàng A M và Lò A D trộm cắp vào ngày 02/11/2018. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã làm rõ anh Nguyễn Văn Quê không biết nguồn gốc 04 chiếc ắc quy trên do Giàng A M và Lò A D đã trộm cắp được mà có, do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại anh Đinh Chí Cường yêu cầu các bị cáo phải bồi thường giá trị tài sản bị xâm phạm là 4.200.000 đồng (bốn triệu hai trăm nghìn đồng). Xét thấy yêu cầu của anh Cường là có căn cứ, áp dụng khoản 1 Điều 584, 585, 587 và khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015. Buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho anh Cường, do không biết Giàng A T không biết cư trú ở đâu, nên buộc các bị cáo Giàng A M và Lò A D phải liên đới bồi thường cho anh Cường, sau này các bị cáo có quyền yêu cầu Giàng A T trả lại cho các bị cáo. Do bị cáo Giàng A M là người khởi xướng và khi bán được chia phần nhiều hơn vì vậy bị cáo Giàng A M phải bồi thường phần nhiều hơn.

Về vật chứng:

Đối với lưỡi cưa sắt dài khoảng 35 cm, bản rộng khoảng 02 cm Giàng A M dùng để cắt phá ổ khóa khi trộm cắp, sau khi trộm cắp được tài sản bị cáo Giàng A M đã vứt lưỡi cưa sắt trên xuống sông Hồng tại thôn An Quang, xã Quang Kim, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.

Đối với 04 bình ắc quy đã mua của Mình và Dũng, Nguyễn Văn Quê đã bán cho một người đàn ông không quen biết với giá 1.800.000 (một triệu tám trăm nghìn) đồng, do Nguyễn Văn Quê không biết tên tuổi người đàn ông đã mua 04 bình ắc quy của mình nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Đối với chiếc điện thoại OPPO màu đen mà Giàng A M đã sử dụng để soi sáng trong việc trộm cắp tài sản ngày 02/11/2018, đến ngày 09/11/2018 Giàng A M đã bán chiếc điện thoại trên cho một người đàn ông không quen biết tại xã Bản Vược, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai với giá 1.000.000 (một triệu) đồng. Vì vậy Cơ quan cảnh sát điều tra không thu giữ được.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 24B2- 095.69 đã tạm giữ ngày 05/12/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra đã chứng minh làm rõ chiếc xe là tài sản của Giàng A M, ngày 02/11/2018, Giàng A M đã sử dụng chiếc xe mô tô này làm phương tiện cùng Lò A D đi trộm cắp tài sản và làm phương tiện chở bình ắc qui đi tiêu thụ. Do vậy chiếc xe này là vật chứng vụ án, là phương tiện phạm tội, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng” nhưng do các bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố bị cáo Giàng A M, Lò A D phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 17; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Giàng A M 9 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09 tháng 12 năm 2018.

Áp dụng khoản 1 Điều 17; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lò A D 6 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Cốc Mỳ, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Áp dụng khoản 1 Điều 584, 585, 587 và khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015.

Bị cáo Giàng A M và bị cáo Lò A D phải liên đới bồi thường cho anh Đinh Chí Cường số tiền 4.200.000 đồng (bốn triệu hai trăm nghìn đồng). Phần cụ thể của mỗi bị cáo như sau:

Bị cáo Giàng A M phải bồi thường cho anh Đinh Chí Cường số tiền 2.700.000 đồng (hai triệu bảy trăm nghìn đồng).

Bị cáo Lò A D phải bồi thường cho anh Đinh Chí Cường số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng).

3. Về Vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, nộp ngân sách nhà nước chiếc xe mô tô nhãn hiệu DETECH ESPERO, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 24B2- 095.69, số khung RPEXCH8PEGA – 185428, số máy VDEJQI52FMHB – 185428, xe đã qua xử dụng, xe có một gương chiếu hậu bên trái.

4. Án phí: Bị cáo Giàng A M, Lò A D mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn) tiền án phí Hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng mỗi bị cáo phải chịu 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm và Dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ