vanban.org

Bản án 13/2019/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội Tuyên án 24/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Đức D1 phạm tội “ Cố ý gây thương tích”; bị cáo Nguyễn Tiến D2 phạm tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Về dân sự, ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận như sau: Bị cáo Nguyễn Đức D1 phải bồi thường cho anh Nguyễn Tiến D2 32.530.000 đồng. Xác nhận tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đức D1 đã bồi thường 17.530.000 đồng, còn phải bồi thường tiếp cho anh Nguyễn Tiến D2 15.000.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức Đ - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Đức D1 phạm tội “ Cố ý gây thương tích”; bị cáo Nguyễn Tiến D2 phạm tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀN KIẾM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2019/HSST
Ngày 24 tháng 1 năm 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hổ Bình và bà Đào Phƣơng Mai

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Tô Việt Anh - Thư ký Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm: Bà Trần Thùy Linh, Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 253/2018/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 253/HSST/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Đức D1

Giới tính: Nam

Sinh năm: 1986.

Nơi cư trú: số 24 phố B, phường P, quận H, Hà Nội

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Văn hóa: 9/12.

Quốc tịch: Việt Nam.

Dân tộc: Kinh.

Họ tên cha: Nguyễn Trương A

Họ tên mẹ: Đỗ Thị Tố H1

TATS: Không

Nhân thân: Từ năm 2005 đến năm 2014 có 02 tiền sự về hành vi sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngoài thời hiệu.

Tạm giữ: 10/7/2018

Tạm giam: 16/7/2018

Số giam: 3372Q1/9.

Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số I - Công an TP Hà Nội. Có mặt

2. Họ và tên: Nguyễn Tiến D2

Giới tính: Nam

Sinh năm: 1991.

Nơi cư trú: số 169 phố P, phường P, quận H, thành phố H.

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Văn hóa: 12/12.

Quốc tịch: Việt Nam.

Dân tộc: Kinh.

Họ tên cha: Nguyễn Tấn Mộng L

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Ngọc O

TATS: Không.

Đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

* Ngƣời bị hại :

1. Anh Nguyễn Tiến D2, sinh năm 1991. Nơi cư trú: số 169 phố P, phường P, quận H, thành phố H ( đồng thời là bị cáo).

2. Ông Nguyễn Trương A. Sinh năm 1961. HKTT: số 24 phố B, phường P, quận H, thành phố H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 29/01/2018, ông Nguyễn Tấn Mộng L đến trụ sở Công an phường Phúc Tân trình báo sự việc Nguyễn Tiến D2 (là con trai ông L) bị Nguyễn Đức D1 dùng kéo sắt đâm vào bụng gây thương tích tại trước cửa số 169 phố P, phường P, quận H, thành phố H. Quá trình điều tra xác định nội dung sự việc như sau:

Do mâu thuẫn từ năm 2016 về việc ông Nguyễn Tấn Mộng L hủy hợp đồng thầu xây dựng, ông Nguyễn Trương A (sinh năm: 1961; ĐKHKTT: số 24 B, phường P, quận H, thành phố H) yêu cầu ông L phải bồi thường số tiền 40.000.000 đồng nhưng ông L không đồng ý. Nguyễn Đức D1 (là con trai ông Trương A) thường xuyên đến nhà ông L để đòi số tiền trên. Khoảng 18 giờ ngày 29/01/2018, ông L cùng con trai là Nguyễn Tiến D2 đang rửa xe tại trước cửa nhà số 169 phố P, phường P, quận H, thành phố H thì D1 điều khiển xe máy Piaggio LX màu đỏ, BKS: 30F1 - 1565 đến đòi tiền ông L. Hai bên lời qua tiếng lại, ông L xịt vòi nước vào mặt D1 nên D1 đã điều khiển xe máy bỏ đi. Đi được khoảng 50m, D1 lấy 01 chiếc kéo sắt (mũi nhọn dài khoảng 25cm, chuôi kéo bọc nhựa màu đỏ) đang để trong thúng của người bán hàng rong rồi điều khiển xe máy quay lại nhà số 169 phố P, phường P, quận H, thành phố H. Đến nơi, D1 dựng xe tại lòng đường trước cửa nhà rồi đi bộ vào gặp D2 thì bị ông L cầm gậy sắt còn D2 cầm điếu cày đánh D1. D1 giơ tay trái lên đỡ còn tay phải cầm kéo đâm D2 02 nhát, 01 nhát vào phần bụng bên trái, 01 nhát vào phần dưới sườn bên phải rồi bỏ chạy theo hướng phố B. Ông L đuổi theo D1 còn D2 dùng gậy sắt đập liên tiếp vào đầu chiếc xe máy Piaggio LX màu đỏ của D1 để lại. Sau đó, ông L quay về đưa D2 vào Bệnh viện Việt Đức cấp cứu và đến trụ sở Công an phường Phúc Tân trình báo.

Tang vật thu giữ của ông Nguyễn Tấn Mộng L: 01 thanh sắt rỗng dài khoảng 01m, đường kính khoảng 2cm đã hoen rỉ; 01 điếu cày bằng tre màu đen đầu bịt nhựa dài khoảng 65cm .

Đến ngày 30/01/2018, ông Nguyễn Trương A đến trụ sở Công an phường Phúc Tân trình báo về việc chiếc xe máy Piaggio LX màu đỏ, BKS: 30F1 - 1565 bị vỡ nát phần đầu xe và giao nộp chiếc xe máy trên .

Tại Bản Kết luận giám định pháp y thương tích số 198 ngày 19/3/2018 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Hà Nội kết luận thương tích của Nguyễn Tiến D2: Các sẹo vết thương phần mềm: 02%; Nhiều khả năng các thương tích do vật sắc gây nên. Tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 02% (hai phần trăm).

Tại Bản Kết luận định giá tài sản ngày 17/3/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hoàn Kiếm kết luận: Thay thế phần đầu xe của chiếc xe máy Piagio Lx màu đỏ gồm ốp pha vào thời điểm 29/01/2018 có giá trị 445.000 đồng; ốp gáy vào thời điểm 29/01/2018 có giá trị 435.000 đồng; cụm đồng hồ vào thời điểm 29/01/2018 có giá trị 1.650.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là: 2.530.000 đồng (hai triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng).

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đức D1 khai nhận hành vi dùng kéo sắt đâm 02 nhát vào bụng Nguyễn Tiến D2 như đã nêu trên. Trên đường bỏ chạy, D1 đã vứt chiếc kéo sắt tại lề đường cách số 169 phố P, phường P, quận H, thành phố H khoảng 20m, hiện không thu giữ được chiếc kéo. Trong quá trình xô xát, D1 bị đánh thương tích nhỏ nên không yêu cầu giám định thương tích. Chiếc xe máy nhãn hiệu Piaggio LX màu đỏ, BKS: 30F1 - 1565, D1 mượn của bố là ông Nguyễn Trương A. D1 không biết ai có hành vi cố ý làm hư hỏng chiếc xe máy trên. Trong quá trình điều tra, D1 không chấp hành “Lệnh cấm đi khởi nơi cư trú” nên Cơ quan điều tra đã ra Lệnh truy nã, đến ngày 10/7/2018, D1 đầu thú và đã bị bắt theo Quyết định truy nã và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giam”.

Nguyễn Tiến D2 ban đầu khai không đập phá xe máy và cũng không biết ai làm hư hỏng chiếc xe máy nhãn hiệu Piaggio LX màu đỏ, BKS: 30F1 - 1565, sau đó thay đổi lời khai: sau khi bị D1 dùng kéo đâm 02 nhát, D2 ngã xuống đất. Ông L cầm gậy đuổi theo D1 còn D2 vào trong nhà rửa vết thương. Khi D2 quay ra ngoài cửa thì thấy ông L đang dùng gậy sắt đập vào phía thân sau xe máy của D1, D2 giằng lấy gậy sắt của ông L rồi dùng chân đạp vào phần thân xe khiến xe máy đổ xuống đường. D2 đề nghị khởi tố vụ án và xử lý Nguyễn Đức D1 theo quy định pháp luật và yêu cầu được bồi thường tổn hại về sức khỏe và tinh thần với số tiền 60.000.000 đồng.

Ông Nguyễn Tấn Mộng L ban đầu khai: Do bực tức nên ông L đã cầm gậy sắt đập 02 nhát vào đầu xe máy của D1, D2 giằng lấy gậy sắt đập 01 nhát vào đầu xe. Sau đó, ông L thay đổi lời khai khẳng định D2 không có hành vi đập phá làm hư hỏng chiếc xe máy Piaggio LX màu đỏ còn ông L chỉ cầm gậy sắt đập 01 nhát vào yên xe máy thì bị D2 giằng lấy gậy sắt nên không đập nữa.

Những người làm chứng gồm chị Trần Thị H2 (sinh năm: 1993; ĐKHKTT: số 148 P, quận H, thành phố H) và chị Nguyễn Thu H3 (sinh năm: 1978; ĐKHKTT: số 44 H, phường H, quận H, thành phố H) cùng khai nhìn thấy Nguyễn Tiến D2 cầm 01 gậy sắt đập liên tiếp vào phần đầu chiếc xe LX màu đỏ, BKS: 30F1 - 1565. Tiến hành cho chị H2 và chị H3 nhận dạng Nguyễn Tiến D2 qua ảnh, chị H2 và chị H3 đều nhận ra D2 chính là người có hành vi dùng gậy sắt đập vào phần đầu làm hư hỏng xe máy LX màu đỏ tại lòng đường trước cửa số 169 phố P, phường P, quận H, thành phố H vào ngày 29/01/2018.

Đối với chiếc xe máy Piaggio LX màu đỏ, BKS: 30F1 - 1565, số khung: 0000022450, số máy: 519466, quá trình điều tra xác định là của chị Đinh Thị Ngọc T (sinh năm: 1976; ĐKHKTT: số X tổ 5C P, quận H, thành phố H). Chị T mua xe máy vào tháng 12/2007 và sử dụng đến tháng 9/2012 thì bán cho bà Nguyễn Kim N (sinh năm: 1961; ĐKHKTT: số 19/463 H, phường P, quận H, thành phố H). Đến tháng 11/2017, bà N đã bán chiếc xe máy trên cho ông Nguyễn Trương A. Xét không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Đức D1, ngày 31/10/2018, Cơ quan CSĐT - Công an quận Hoàn Kiếm đã trả lại chiếc xe máy trên cho ông Trương A. Ông Trương A đã nhận lại tài sản và yêu cầu được bồi thường số tiền 2.530.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 248/CT-VKS ngày 20/11/2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm đã truy tố: Nguyễn Đức D1 vÒ téi Cố ý gây thương tích, téi danh vµ h×nh ph¹t ® îc quy ®Þnh t¹i ĐiÒu 134 khoản 1 điểm a Bé luËt h×nh sù và Nguyễn Tiến D2 về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản, téi danh vµ h×nh ph¹t ® îc quy ®Þnh t¹i ĐiÒu 178 khoản 1 Bé luËt h×nh sù

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố về hành vi, tội danh và điều luật. Đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức D1 phạm tội “ Cố ý gây thương tích”; bị cáo Nguyễn Tiến D2 phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b,s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D1 từ 7 đến 9 tháng tï. Áp dụng khoản 1 điều 178; điểm b khoản 1,2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D2 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

+ Về dân sự: ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

+ Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo Nguyễn Đức D1 khai nhận hành vi như cáo trạng nêu và đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Nguyễn Tiến D2 không thừa nhận dùng gậy đập vào đầu xe máy nhưng khai có giằng co gậy với ông L và va chạm với xe máy; đã tác động làm đổ xe máy; nhận trách nhiệm đã làm hư hỏng xe máy. Đối với việc Nguyễn Đức D1 gây thương tích, anh D2 khai như cáo trạng nêu.

Ông Nguyễn Trương A xác nhận là chiếc xe máy LX là tài sản của ông. Ông đề nghị giảm án cho cả hai bị cáo.

Đối với phần dân sự, tại phiên tòa các bên đã thỏa thuận được cụ thể như sau:

- Bị cáo Nguyễn Đức D1 bồi thường cho anh Nguyễn Tiến D2 32.530.000 đồng. Đã bồi thường 17.530.000 đồng tại phiên tòa, còn bồi thường tiếp 15.000.000 đồng.

- Bị cáo Nguyễn Tiến D2 bồi thường cho ông Nguyễn Trương A 2.530.000 đồng. Đã bồi thường xong.

C¨n cø vµo c¸c chøng cø vµ tµi liÖu ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, bÞ c¸o và những người tham gia tố tụng khác,

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an quận Hoàn Kiếm; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên quận Hoàn Kiếm trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử,Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Về các chứng cứ, tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hành vi gây thương tích thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, anh Nguyễn Tiến D2 đã có đơn đề nghị khởi tố vụ án nên việc điều tra, truy tố và xét xử hành vi này là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về nội dung:

Đối với hành vi Cố ý gây thương tích, xÐt khai nhận cña bÞ c¸o t¹i phiªn tßa phï hîp lêi khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, vËt chøng, kÕt luËn gi¸m ®Þnh cïng c¸c tµi liÖu chøng cø kh¸c mµ c¬ quan ®iÒu tra ®· thu thËp ® îc trong hå s¬ vô ¸n nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 05 phút ngày 29/01/2018, tại trước cửa số 169 phố P, phường P, quận H, thành phố H, Nguyễn Đức D1 có hành vi dùng kéo sắt đâm 02 nhát vào phần bụng bên trái và vào phần sườn dưới bên phải của Nguyễn Tiến D2 làm D2 bị tổn hại sức khỏe 02%.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Đức D1 đã phạm vào tội Cố ý gây thương tích, téi danh vµ h×nh ph¹t ® îc quy ®Þnh t¹i ĐiÒu 134 khoản 1 điểm a Bé luËt h×nh sù.

Đối với hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản, mặc dù Nguyễn Tiến D2 không thừa nhận hành vi dùng gậy sắt đập vào đầu xe máy và ông Nguyễn Tấn Mộng L thay đổi lời khai khai D2 không có hành vi dùng gậy sắt đập vào đầu xe máy Piaggio LX màu đỏ, BKS: 30F1 - 1565. Tuy nhiên, tại phiên tòa và trong quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Tiến D2 thừa nhận đã giằng co chiếc gậy với ông L và va chạm vào xe máy; bị cáo dùng chân đạp vào thân xe làm đổ xe; bị cáo nhận trách nhiệm làm hư hỏng xe máy; lời khai ban đầu của ông L phù hợp với lời khai của những người làm chứng khách quan là chị Trần Thị H1 và chị Nguyễn Thu H2 về việc D2 dùng gậy đập vào đầu xe máy, phù hợp với tang vật thu giữ và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án; chị H1 và chị H2 không có mâu thuẫn, thù oán với D2. Vì vậy, đủ căn cứ xác định ngày 29/01/2018, D2 có hành vi dùng gậy sắt đập vào đầu xe máy Piaggio LX màu đỏ, BKS: 30F1 - 1565 tại lòng đường trước cửa nhà số 169 phố P, phường P, quận H, thành phố H, giá trị tài sản bị thiệt hại là 2.530.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Tiến D2 đã phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản, téi danh vµ h×nh ph¹t ® îc quy ®Þnh t¹i ĐiÒu 178 khoản 1 Bé luËt h×nh sù.

C¸o tr¹ng cña ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n quËn Hoµn KiÕm truy tố các bÞ c¸o vÒ tội danh và điều luật như trên lµ cã c¨n cø vµ ®óng ph¸p luËt.

Xét hành vi của bị cáo Nguyễn Đức D1 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe người khác, gây mất trật tự trị an xã hội, nhân thân bị cáo đã có tiền sự (đã xóa) nay vẫn phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng cũng cần phải có mức hình phạt nghiêm minh phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đã bồi thường cho người bị hại. Đây là các tình tiết để xem xÐt giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Xét hành vi của bị cáo Nguyễn Tiến D2 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội nên cũng cần mức hình phạt phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo cũng tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội do bực tức; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã bồi thường toàn bộ thiệt hại. Đây là các tình tiết để xem xÐt giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng nên có thể xử phạt bị cáo cải tạo không giam giữ cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa.

Tại phiên tòa, các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận về dân sự nên Tòa án ghi nhận.

Các vật chứng không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

BÞ c¸o ph¶i chÞu ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm và có quyền kháng cáo theo quy ®Þnh của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Đức D1 phạm tội “ Cố ý gây thương tích”; bị cáo Nguyễn Tiến D2 phạm tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

2.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b,s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D1 06 (sáu) th¸ng 14(mười bốn) ngµy tï, thêi h¹n tï tÝnh tõ ngµy 10/7/2018. X¸c nhËn bÞ c¸o ®· chÊp hµnh xong h×nh ph¹t tï. Áp dụng điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự, trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Đức D1, nếu họ không bị tạm giam về một tội phạm khác.

- Áp dụng khoản 1 điều 178; điểm b, i, s khoản 1,2 điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D2 06 ( sáu) tháng Cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân Phường P – Quận H - H để giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan giám sát giáo dục bị cáo nhận được quyết định thi hành hình phạt và bản sao bản án.

3. Về dân sự, ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận như sau:

- Bị cáo Nguyễn Đức D1 phải bồi thường cho anh Nguyễn Tiến D2 32.530.000 đồng. Xác nhận tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đức D1 đã bồi thường 17.530.000 đồng, còn phải bồi thường tiếp cho anh Nguyễn Tiến D2 15.000.000 đồng.

- Bị cáo Nguyễn Tiến D2 phải bồi thường cho ông Nguyễn Trương A 2.530.000 đồng. Xác nhận tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tiến D2 đã bồi thường số tiền này cho ông Nguyễn Trương A.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. C¨n cø Điều 46, 47 Bộ luật hình sự và §iÒu 106 cña Bé luËt tè tông h×nh sù, xử lý vật chứng như sau: tịch thu tiêu hủy 01 thanh sắt rỗng dài khoảng 01m, đường kính khoảng 2cm đã hoen rỉ; 01 điếu cày bằng tre màu đen đầu bịt nhựa dài khoảng 65cm

(Tình trạng như biên bản bàn giao vật chứng ngày 03/12/2018 giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm)

5. ¸p dông §iÒu 135,136 Bé luËt tè tông h×nh sù; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toµ ¸n, buéc bÞ c¸o Nguyễn Đức D1, Nguyễn Tiến D2 mỗi người ph¶i nép 200.000 ®ång ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.

6. ¸p dông §iÒu 331, 333 Bé luËt tè tông h×nh sù: Bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. N¬i nhËn:

Cỡ chữ