vanban.org

Bản án 13/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 07/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Hồng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Hồng H 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/5/2019. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Hồng H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Hồng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẤP VÒ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2019/HS-ST
Ngày: 07 - 8 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Nội.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Thanh Hùng.

Bà Nguyễn Thị Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Khánh Tâm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Lê M Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2019/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2019/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Hồng H, (tên gọi khác Ch), sinh năm 1985, tại tỉnh Đồng Tháp; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp BH, xã BT, huyện LV, tỉnh ĐT; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Văn B (đã chết) và bà: Lương Kim Ph, sinh năm: 1964; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con lớn trong gia đình; tiền án, tiền sự: Không có

Tạm giữ từ ngày 08/5/2019 đến ngày 16/5/2019; tạm giam từ ngày 17/5/2019 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện LV, tỉnh ĐT; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1986; địa chỉ: ấp BT, xã BT, huyện LV, tỉnh ĐT (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng:

1. Anh Dương Phi H , sinh năm 1984. (vắng mặt)

2. Anh Đinh Hồng M , sinh năm 1979. (có mặt)

3. Anh Huỳnh Thanh B, sinh năm: 1985. (vắng mặt);

4. Bà Lương Kim Ph, sinh năm: 1964. (có mặt).

5. Anh Nguyễn Chí L, sinh năm: 1982, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 07/5/2019, Đặng Hồng H đến nhà Đinh Hồng M tại ấp BP, xã H, huyện CM, tỉnh AG, cả hai cùng uống rượu đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì nghỉ. Lúc này M nói bị mệt nên H lấy xe mô tô biển số 67L2-212.83 của M chở M đến Trung tâm Y tế huyện LV ở ấp BHA, xã BTT, huyện LV, tỉnh ĐT để điều trị. Khi điều khiển xe vào Trung tâm Y tế huyện LV thì H phát hiện một xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX màu đỏ đen, biển số 66N5-7111 của chị Nguyễn Thị Th đang đậu gần cổng bảo vệ không người trông coi nên H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. Sau khi đưa M vào điều trị, đến khoảng 01 giờ ngày 08/5/2019, H ra cổng Trung tâm Y tế thì thấy anh Dương Phi H là bảo vệ đã ngủ say nên H lén lút lấy xe của chị Th đem ra ngoài cất giấu ở một con hẽm cách hiện trường khoảng 96 mét và tiếp tục vào ở cùng M. Đến khoảng 01 giờ 20 phút sau khi điều trị xong, M điều khiển chở H về nhà M khi xe chạy được khoảng 50 mét, H kêu M điều khiển xe chở H quay lại nơi cất giấu xe vừa trộm được, nói dối với M là xe H mượn của người khác và bị mất chìa khóa không chạy được nên kêu M dùng chân đẩy xe trộm được về nhà của M để ngủ.

Đến khoảng 07 giờ ngày 08/5/2019, H dẫn xe trộm được đến tiệm sửa xe TP của anh Huỳnh Thanh B ngụ ấp BP, xã HA, huyện CM, tỉnh AG câu lại hệ thống điện (câu đề rét) để đi tìm nơi tiêu thụ. Lúc này anh Trần Chí L (là chồng chị Th) đi làm ngang phát hiện nên báo Công an huyện LV bắt giữ H cùng tang vật.

Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ của Đặng Hồng H 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX màu đỏ đen, biển số 66N5-7111 mà H đã trộm của chị Nguyễn Thị Th và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Mobel màu đen đã qua sử dụng.

Kết luận định giá tài sản số: 13/HĐĐG-TS ngày 14/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Lấp Vò kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX màu đỏ đen, biển số 66N5-7111, số máy 43E-5567880, số khung 4320AY110257 có giá trị là 8.500.000đ (tám triệu năm trăm nghìn đồng).

Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Th 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX màu đỏ đen, biển số 66N5-7111 mà H đã trộm cắp của chị Nguyễn Thị Th.

Đối với Đinh Hồng M có hành vi dùng chân đẩy xe của Đặng Hồng H vừa trộm được về nhà M, nhưng M không biết được xe này do H trộm cắp nên không xử lý hình sự M đồng phạm với H về tội trộm cắp tài sản.

Đối với Huỳnh Thanh B, khi H đem xe lại nhờ câu lại hệ thống điện, anh B không biết được xe này do H trộm cắp mà có, nên không đề cấp trách nhiệm của anh B trong vụ án này.

Tại bản Cáo trạng số: 17/CT-VKS-LVo ngày 08 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp, quyết định truy tố Đặng Hồng H ra Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Vị đại diện Viện kiểm sát huyện Lấp Vò thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, đã đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết tội đối với bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, căn cứ nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về tội danh: Căn cứ Điều 173 của Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đặng Hồng H (tên gọi khác là Châu) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Hồng H từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù.

+ Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo H 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu mobel màu đen (đã qua sử dụng).

+ Về trách nhiệm dân sự: Đã thu hồi và đã trả lại cho bị hại xong, chị Nguyễn Thị Th không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên đề nghị không giải quyết.

- Bị cáo Đặng Hồng H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản Cáo trạng đã truy tố. Đồng ý xét xử vắng mặt đối với bị hại và người làm chứng là anh H, anh B và anh L. Tại phần tranh luận bị cáo cũng không phát biểu tranh luận với Kiểm sát viên, lời nói sau cùng của bị cáo là xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Bị hại Nguyễn Thị Th đã nhận lại tài sản xong, không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng bà Lương Kim Ph trình bày: Bà là mẹ của bị cáo Đặng Hồng H, vào đêm ngày 07/5/2019 H có về nhà mượn bà 500.000đ để trả tiền viện phí cho Đinh Hồng M. Việc H lấy trộm chiếc xe của chị Th thì bà Ph không biết.

- Người làm chứng là anh Đinh Hồng M trình bày: Anh M là bạn của bị cáo H. Vào tối ngày 07/5/2019 do anh M bị bệnh nên có nhờ H chở đến Trung tâm Y tế huyện Lấp Vò để khám bệnh. Sau khi khám bệnh xong khoảng 01 giờ 20 ngày 08/5/2019 thì xuất viện ra về. Khi ra khỏi cổng Trung tâm Y tế huyện Lấp Vò thì bị cáo H có nhờ anh M dùng chân đẩy chiếc xe gắn máy về nhà của M dùm. Anh M có hỏi xe của ai thì H nói là xe mượn của bạn để ngày mai đi làm. Anh M không biết chiếc xe H nhờ đẩy dùm là xe H trộm của người khác.

- Người làm chứng là anh H, anh B và anh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lấp Vò, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Hồng H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Do không có tiền để tiêu xài, nên vào khoảng 01 giờ ngày 08/5/2019, bị cáo đã lợi dụng sơ hở trong việc trong coi tài sản của chị Nguyễn Thị Thi nên đã lén lút lấy trộm 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX màu đỏ đen, biển số 66N5-7111 có giá là 8.500.000đ (tám triệu năm trăm nghìn đồng) của chị Nguyễn Thị Th đang đậu tại Trung tâm Y tế huyện LV thuộc ấp BHA, xã BTT, huyện LV, tỉnh ĐT để bán lấy tiền tiêu xài. Trong lúc đưa xe ra tiệm sửa xe của anh B để nhờ câu lại hệ thống điện (câu đề réc) để tìm nơi tiêu thụ tài sản trộm được thì bị Công an huyện LV bắt giữ. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do đó, Cáo trạng số 17/CT-VKSLVo của Viện kiểm sát huyện Lấp Vò truy tố bị cáo Đặng Hồng H về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”;

Bị cáo Đặng Hồng H là người đã thành niên, bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng do muốn có tiền mà không phải bỏ công sức lao động vất vả, nên bị cáo đã lấy trộm tài sản của chị Nguyễn Thị Th dẫn đến phạm tội. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử công khai ngày hôm nay là cần thiết, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, đồng thời nhằm mục đích giáo dục phòng ngừa chung cho nên cần có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để bị cáo có điều kiện học tập, cải tạo trở thành công dân tốt và sống có ích cho gia đình và xã hội.

Hành vi của bị cáo Đặng Hồng H thực hiện với lỗi cố ý, chẳng những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản lấy trộm đã thu hồi và trả lại cho bị hại xong. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự, thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa thể hiện bị cáo Đặng Hồng H không có nghề nghiệp ổn định để tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Nguyễn Thị Th đã nhận lại tài sản bị lấy trộm, chị Nguyễn Thị Th không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa đúng với quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Bị cáo Đặng Hồng H bị kết tội, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Hồng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Đặng Hồng H 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/5/2019.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Trả lại cho bị cáo Đặng Hồng H: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu mobel màu đen (đã qua sử dụng).

Vật chứng nêu trên đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp giữ theo Biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 08/7/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

4. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không đề cập xử lý.

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo Đặng Hồng H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Bị cáo có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ