vanban.org

Bản án 13/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 11/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản ”

Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn T 09(Chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội "Trộm cắp tài sản". Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày chính quyền địa phương nhận được quyết định thi hành án, bản sao bản án; và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Giao bị cáo Ngô Văn T cho UBND thị trấn Lang Chánh, huyệ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999) - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản ”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

HUYỆN LANG CHÁNH
TỈNH THANH HOÁ
Bản án số: 13/2019/HSST
Ngày 11 tháng 9 năm 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LANG CHÁNH

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân S và Ông Lê Văn Ph

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn M - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Trương Văn Đ - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở TAND huyện Lang Chánh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2019/TLST- HS ngày 07/8/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2019/QĐXXST-HS ngày 28/8/2019 đối với bị cáo: Ngô Văn T- Sinh năm: 1987 tại thị trấn Lang Chánh, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Khu Phố Nguyễn Trãi, thị trấn Lang Chánh, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 3/12;

Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Ngô Văn T và bà Nguyễn Thị L;

Tiền án: Không;

Tiền sự: Không;

Hiện bị cáo tại ngoại và đang thực hiện lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại

phiên tòa.

* Người đại diện hợp pháp của bị cáo là: Ông Ngô Văn T; (Có mặt)

Địa chỉ: Khu Phố Nguyễn Trãi, thị trấn Lang Chánh, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa.

Trước khi đưa vụ án ra xét xử, bị cáo Ngô Văn Tiến và ông Ngô Văn Toàn là người đại diện hợp pháp của bị cáo đã có đơn từ chối chỉ định người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa.

* Người bị hại: Anh Nguyễn Văn C - sinh năm 1980 (vắng mặt)

Địa chỉ: K356/8 Đống Đa, phường Thanh Bình, quận Hải Châu, thành Phố Đà Nẵng.

* Người làm chứng:

1. Anh Lê Văn T, sinh năm 1973 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Tân Tiến, xã Tân Phúc, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa.

2. Chị Lê Thị Q, sinh năm 1986; (Vắng mặt)

Địa chỉ: K356/8 Đống Đa, phường Thanh Bình, quận Hải Châu, thành Phố Đà Nẵng.( mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 21/7/2018, anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1980, trú tại: K356/8 Đống Đa, phường Thanh Bình, quận Hải Châu, thành Phố Đà Nẵng, đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lang Chánh báo cáo vụ việc: Rạng sáng ngày 21/7/2018 tại nhà bà Lê Thị D, là nhà mẹ vợ của anh Cường ở thôn Tân Tiến, xã Tân Phúc, huyện Lang Chánh, anh Cường đã bị mất trộm 02 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại SAM SUNG GALAXY S7 edge và 01 điện thoại Iphonne 4s; 01 cục sạc pin dự phòng và số tiền 14.000.000đ (Mười bốn triệu đồng).

Trong quá trình điều tra, cơ quan CSĐT Công an huyện Lang Chánh đã xác minh làm rõ. Vào đêm ngày 20 rạng sáng ngày 21/7/2018, Ngô Văn T, sinh năm 1987, trú tại khu phố Nguyễn Trãi, thị trấn Lang Chánh, huyện Lang Chánh đi bộ một mình theo quốc lộ 15A từ thị trấn Lang Chánh vào xã Tân Phúc, huyện Lang Chánh, mục đích để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi đến nhà bà Lê Thị D ở thôn Tân Tiến, xã Tân Phúc, T thấy đèn điện ở bếp vẫn sáng, quan sát xung quanh không thấy có người qua lại, T lẻn vào nhà bà D, Tiến quan sát thấy cửa chính ngôi nhà không khóa mà chỉ khép hờ, bên trong nhà nghe người ngáy rất to, T đoán người trong nhà đã ngủ say. T mở cửa lẻn vào bên trong ngôi nhà thì phát hiện trên nóc tủ lạnh ở bên phải gần cửa ra vào có 02 chiếc điện thoại di động, trong đó có 01 chiếc điện thoại di động màu đen đang cắm sạc pin từ nguồn sạc dự phòng. T rút dây sạc điện thoại đang sạc rồi bỏ lại dây sạc sau đó cầm 02 điện thoại di động và cục sạc dự phòng bỏ vào túi quần của mình rồi lẻn ra ngoài. Sau khi trộm cắp được tài sản, T đi bộ theo hướng từ Ủy ban nhân dân xã Tân Phúc về thị trấn Lang Chánh, T đến nhà bà nội ở khu phố Lê Lai, thị trấn Lang Chánh, huyện Lang Chánh, lấy xe đạpTiến đã để từ trước đó, sau đó đi về nhà mình ở khu phố Nguyễn Trãi, thị trấn Lang Chánh. Khi về đến nhà, do chưa ai ngủ dậy nên T không vào được nhà, T bỏ hai chiếc điện thoại di động vừa trộm cắp được vào túi nilon mà T nhặt được trước cửa nhà, sau đó giấu ở bụi cây cảnh bên lề đường ngay trước cửa nhà mình, còn chiếc sạc dự phòng T vẫn để túi quần. Sau khi đã cất giấu tài sản vừa trộm cắp được, T điều khiển xe đạp đến quán điện tử của nhà anh T ở thôn Chiềng ban, xã Quang Hiến để chơi, nhưng do quán đã đóng cửa nên T nằm ngủ ở chỏng tre ở trước cửa quán để trú mưa và chờ trời sáng.

Sau khi tiếp nhận nguồn tin tội phạm, cơ quan CSĐT Công an huyện Lang Chánh, tiến hành điều tra xác minh, do nghi vấn T là người trộm cắp tài sản, nên cơ quan CSĐT Công an huyện Lang Chánh đã triệu tập T đến làm việc. Tại cơ quan CSĐT Công an huyện Lang Chánh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và tự nguyện giao nộp cho cơ quan CSĐT Công an huyện Lang Chánh, cục sạc pin dự phòng mà T đã trộm cắp của anh C. Sau khi biết thông tin con mình trộm cắp tài sản, bà Nguyễn Thị Liên là mẹ đẻ của Tiến đã kiểm tra camera nhà mình và phát hiện 02 điện thoại di động được để trong túi nilon cất dấu tại bụi cây cảnh ngay phía trước giáp ranh giữa nhà bà L và nhà H L nên đã mang đến giao nộp cho cơ quan CSĐT Công an huyện Lang Chánh để phục vụ quá trình điều tra.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 16/KLĐGTS ngày 24/7/2018 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: 01 điện thoại di động SAM SUNG GALAXY S7 edge màu đen, mặt sau máy được ốp bằng vỏ ốp lưng màu xanh, ở hai góc phía trên và góc bên trái phía dưới màn hình có vết rạn nứt. Điện thoại đã qua sử dụng, có giá trị là 4.000.000đ; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphonne 4s, màu trắng, đã qua sử dụng có giá trị 600.000đ; 01 cục sạc pin điện thoại dự phòng, màu hồng, kích thước 9cm x 06cm x 2,2cm, trên cục sạc có chữ c.Saver, cục sạc đã qua sử dụng, có giá trị 150.000đ. Tổng giá trị tài sản mà T trộm cắp là 4.750.000 (Bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Theo báo cáo của anh C trình báo ngoài mất 02 điện thoại di động và cục sạc pin dự phòng anh còn mất 14.000.000đ tiền mặt anh để trong ví, chiếc ví để trên nóc tủ lạnh, số tiền này anh C khai là do chú vợ là anh Lê văn T trả nợ.

Vật chứng vụ án:

- 01 điện thoại di động SAM SUNG GALAXY S7 edge màu đen, mặt sau máy được ốp bằng vỏ ốp lưng màu xanh, ở hai góc phía trên và góc bên trái phía dưới màn hình có vết rạn nứt. Điện thoại đã qua sử dụng.

- 01 điện thoại nhãn hiệu Iphonne 4s, màu trắng, đã qua sử dụng;

- 01 cục sạc pin điện thoại dự phòng, màu hồng, kích thước 9cmx06cmx2,2cm, trên cục sạc có chữ c.Saver, cục sạc đã qua sử dụng.

Các vật chứng trên đã được cơ quan CSĐT Công an huyện Lang Chánh, trong quá trình điều tra xác minh, xác định chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Văn C, và anh C được nhận lại tài sản theo Biên bản trả lại tài sản ngày 01/8/2018.

Trong quá trình điều tra, nhận thấy Ngô Văn T có dấu hiệu bị bệnh tâm thần, ngày 13/8/2018, cơ quan CSĐT Công an huyện Lang Chánh, đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 24/QĐ-CSĐT để giám định tình trạng tâm thần của Ngô Văn T. Ngày 17/4/2019, Viện pháp y tâm thần Trung ương đã lết luận giám định pháp y tâm thần số 103/KLGĐ, kết luận: Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định, Ngô Văn T bị bệnh chậm phát triển, tâm thần nhẹ. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F70. tại thời điểm trên bị cáo hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Bản cáo trạng số 16/CTr VKS- LC ngày 05/8/2019 VKSND huyện Lang Chánh đã truy tố bị cáo Ngô Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T, phạm tội trộm cắp tài sản; đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, q, s Khoản 1 Điều 51; Điều 36 của BLHS. Xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Do bị cáo hạn chế về mặt nhận thức, bị cáo là lao động tự do không có thu nhập nên đề nghị HĐXX miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đã thành khẩn nhận tội, thực sự ăn năn hối cải và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, áp dụng mức hình phạt thấp nhất cho bị cáo để bị cáo có điều kiện cải tạo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

Tại phiên tòa hôm nay, vắng mặt người bị hại là anh Nguyễn Văn C. Trong quá trình điều tra, anh C trình bày và đã được nhận lại tài sản gồm: 02 chiếc điện thoại di động và 01 chiếc sạc phin dự phòng. Ngoài ra Anh C đề nghị cơ quan CSĐT, điều tra xử lý đối tượng trộm cắp 14.000.000đ trả lại cho anh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, cán bộ Điều tra Công an huyện Lang Chánh, Kiển sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lang Chánh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện trình tự, thủ tục đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Về tội danh: Tại phiên toà, lời khai nhận của bị cáo phù hơp với nội dung bản Cáo trạng đã nêu, các chứng cứ, tài liệu được thu thập chứng minh trong hồ sơ vụ án, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa, đủ cơ sở để kết luận: đêm ngày ngày 20 rạng sáng ngày 21/7/2018, Ngô Văn T đã đi bộ từ thị trấn Lang Chánh đến nhà bà Lê Thị D ở thôn Tân Tiến, xã Tân Phúc, huyện Lang Chánh, T lợi dụng vào đêm Khuya mọi người đã ngủ say, lẻn vào nhà lén lút trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động SAM SUNG GALAXY S7 edge; 01 điện thoại Iphonne 4s; 01 cục sạc pin dự phòng của anh Nguyễn Văn C ở địa chỉ: K356/8 Đống Đa, phường Thanh Bình, quận Hải Châu, thành Phố Đà Nẵng, là con rể của bà D. Theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản 01 chiếc điện thoại di động SAM SUNG GALAXY S7 edge có giá trị 4.000.000đ; 01 điện thoại Iphonne 4s có giá trị là 600.000đ; 01 cục sạc pin dự phòng có giá trị là: 150.000đ. Tổng giá trị tìa sản bị cáo trộm cắp là 4.750.000đ (Bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố bị cáo Ngô Văn T về tội “Trộm cắp tài sản”. Theo khoản 1 Điều 173 BLHS là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, từ trước đến nay chưa vi phạm gì, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, và có các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện giao tài sản khắc phục hậu quả, bị cáo bị bệnh chậm phát triển tâm thần nhẹ, được quy định tại các điểm b, i, q, s khoản 1, Điều 51 của BLHS, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở thành người tốt. Bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ được qui định tại Điều 36 của BLHS cũng đủ điều kiện để bị cáo cải tạo trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội. Theo chứng cứ thể hiện trong hồ sơ bị cáo là người chậm phát triển, hạn chế về khả năng nhận thức, hơn nữa bị cáo là người lao động tự do, không có nguồn thu nhập, nếu khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo để sung công quỹ Nhà nước theo qui định tại Khoản 3 Điều 36 của BLHS thì bị cáo sẽ giặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Vì vậy để tạo điều kiện cho bị cáo giảm nhẹ bớt khó khăn và để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật, tính nhân đạo của Đảng và Nhà nước, nghĩ nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo là phù hợp với chính sách của Đảng và Nhà nước.

Theo báo cáo của anh C, ngoài mất 02 điện thoại di động và cục sạc pin dự phòng anh còn mất 14.000.000đ tiền mặt anh để trong ví, chiếc ví để trên nóc tủ lạnh, số tiền này anh C khai là do chú vợ là anh Lê Văn T trả nợ và anh C là người cất giữ tiền và cũng là người đầu tiên phát hiện mất trộm tiền. Ngay sau khi tiếp nhận tin báo, cơ quan CSĐT Công an huyện Lang Chánh đã tiến hành điều tra xác minh nhưng không có căn cứ để xử lý.

Về phần bồi thường: Trong quá trình điều tra anh C trình bày: Tài sản anh C đã bị mất trộm gồm 02 điện thoại di động; 01 điện thoại SAM SUNG GALAXY S7 edge và 01 điện thoại Iphonne 4s; 01 cục sạc pin dự phòng . Anh C đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Lang Chánh trả lại 02 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại SAM SUNG GALAXY S7 edge; 01 điện thoại Iphonne 4s; 01 cục sạc pin dự phòng theo biên bản trả lại tài sản ngày 01tháng 8 năm 2018. Anh C không yêu cầu gì nên HĐXX miễn xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, q, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của BLHS; Điều 331; 333 của BLTTHS;

Căn cứ: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; và áp dụng Khoản1 Điều 21; Điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội.

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản ”

Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn T 09(Chín) tháng cải tạo không giam giữ về tội "Trộm cắp tài sản". Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày chính quyền địa phương nhận được quyết định thi hành án, bản sao bản án; và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Giao bị cáo Ngô Văn T cho UBND thị trấn Lang Chánh, huyện Lang Chánh giám sát và giáo dục.

Về án phí: Ngô Văn T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn)đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, vắng mặt người bị hại, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ