vanban.org

Bản án 13/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 26/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lìu Ní C phạm 02 tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và "Mua bán trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: * Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lìu Ní C 11 (Mười một) năm tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lìu Ní C - Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lìu Ní C phạm 02 tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 13/2019/HS-ST
Ngày: 26/02/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Văn Hải

2. Ông Lò Văn Thương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2019/TLST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2019/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 02 năm 2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lìu Ní C

Tên gọi khác: Không;

Sinh năm: 1979 tại Điện Biên;

Nơi cư trú: Bản H, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên;

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Trình độ văn hoá: 4/12 phổ thông; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Lìu Mần X - Sinh năm: 1929 (Đã chết)

Con bà: Đỗ Thị M - Sinh năm 1948

Vợ: Lò Thị Th - Sinh năm 1991

Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/8/2018, sau đó bị tạm giam cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Lìu Ní C: Bà Lê Thị X - Luật sư cộng tác viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ (Có mặt).

* Người có nghĩa vụ liên quan: Lò Văn H - Sinh năm: 1979; Nơi cư trú: Bản T, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt).

* Người có nghĩa vụ liên quan đồng thời là người làm chứng: Lò Thị Th

- Sinh năm: 1991; Nơi cư trú: Bản H, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt).

* Người làm chứng: Lò Văn Anh - Sinh năm: 1989; Nơi cư trú: Bản N, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 20/8/2018 Lìu Ní C đi bộ từ nhà ở Bản H, xã N, huyện Đ đến khu vực gần cây xăng thuộc bản Trung tâm II, xã N, huyện Đ, mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, C gặp một người đàn ông dân tộc H’Mông, không rõ địa chỉ, tự giới thiệu tên là D nhà ở huyện M, tỉnh Điện Biên. Qua trao đổi, C mua được của người đàn ông đó một gói nilon màu hồng bên trong có chứa 02 gói (trong đó có 01 gói được gói bên ngoài bằng nilon màu hồng tiếp theo là 01 lớp nilon màu xanh bên trong là Heroine và 01 gói được gói bên ngoài bằng nilon màu đen tiếp đến là một túi nilon màu xanh, miệng túi có nếp gấp cố định chứa 270 viên Methamphetamine (gồm 267 viên màu hồng và 03 viên màu xanh) với giá 10.000.000 đồng. Sau khi mua được, C cất giấu Heroine và Methamphetamine vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà. Khoảng 21 giờ cùng ngày khi ngồi rèn dao ở bếp, C lấy 10 viên Methamphetamine và một ít Heroine ở gói ma túy vừa mua được ra sử dụng hết bằng hình thức “Hút”. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 21/8/2018 khi C đang ngồi rèn dao ở bếp thì có Lò Văn H (sinh năm: 1979, trú tại: Bản T, xã N, huyện Đ) chở một bó củi, loại củi cây me đến bán cho C. Qua trao đổi C đã đồng ý đổi cho H một ít Heroine để lấy bó củi có giá trị tương đương là 50.000 đồng. Thỏa thuận với H xong, C đi vào trong buồng ngủ lấy gói ma túy cất giấu ở túi quần bên phải ra, dùng túi nilon màu hồng gói 03 viên Methamphetamine thành một gói và dùng tay cấu chia heroine thành 3 phần nhỏ (01 phần không gói gì được cất giấu dưới nền nhà đầu giường ngủ; 01 phần được gói bằng nilon màu hồng chung với gói có chứa 03 viên Methamphetamine; 01 phần được gói riêng bằng nilon màu hồng). Số ma túy còn lại C cất giấu vào túi quần bên phải như cũ. Sau khi chia xong, C cầm số ma túy vừa chia ra được ở tay trái rồi đi ra ngoài sân đưa cho H một gói Heroine được gói bằng nilon màu hồng. H nhận heroine và đi ra khu vực cánh đồng thuộc xã N, huyện Đ sử dụng hết bằng hình thức “Chích” còn C đi vào bếp ngồi rèn dao. Hồi 11 giờ cùng ngày Công an huyện Điện Biên vào nhà kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ của Lìu Ní C 21,15 gam Heroine; 26,56 gam Methamphetamine. Hồi 13 giờ 15 phút cùng ngày, Công an huyện Điện Biên khám xét khẩn cấp nơi ở của Lìu Ní C đã thu giữ tại dưới nền nhà đầu giường ngủ của Lìu Ní C 1,15 gam Heroine.

Trong quá trình điều tra người có nghĩa vụ liên quan đề nghị Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng xử lý hành vi phạm tội của bị cáo theo quy định của pháp luật; bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và khẳng định hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành 02 tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự và Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự .

Tại bản kết luận giám định số: 764/GĐ-PC09 ngày 04/9/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Hai mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lìu Ní C gửi giám định là ma túy loại Heroine. Hai viên nén màu hồng và 01 viên nén màu xanh trích ra từ vật chứng thu giữ của Lìu Ní C gửi giám định gửi giám định là loại Methamphetamine. Khối lượng vật chứng thu giữ của Lìu Ní C gồm: 21,15 gam chất bột màu trắng khi bắt quả tang; 1,15 gam chất bột màu trắng qua khám xét; 26,26 gam viên nén màu hồng và 0,3 gam viên nén màu xanh. Heroine nằm trong danh mục chất ma túy, STT 9, mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018. Methamphetamine nằm trong danh mục chất ma túy, STT 323, mục IIC, Danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018. Không hoàn lại đối tượng giám định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định trên của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên.

Về vật chứng của vụ án: Ngày 22/02/2019 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên đã chuyển vật chứng của vụ án sang cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên gồm: 21,85 gam Heroin và 26,26 gam Methamphetamine còn lại sau khi giám định và 01 bó củi me gồm 26 thanh củi là vật chứng của vụ án.

Bản cáo trạng số: 13/CT-VKS-HĐB ngày 04/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lìu Ní C về các tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lìu Ní C với mức hình phạt từ 11 năm đến 11 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

* Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lìu Ní C với mức hình phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt chung bị cáo Lìu Ní C phải chấp hành từ 13 năm đến 14 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

* Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 21,85 gam Heroin; 26,26 gam Methamphetamine và một bó củi me gồm 26 thanh củi.

* Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa luật sư bào chữa của bị cáo Lìu Ní C đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức án đầu khung; Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Trong quá điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Tại phiên tòa Lìu Ní C đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Điện Biên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo và luật sư đều thừa nhận do muốn có ma túy để sử dụng nên vào khoảng 18 giờ 00 ngày 20/8/2018 C một mình đi bộ từ nhà xuống đến khu vực gần cây xăng thuộc bản Trung tâm II, xã N, huyện Đ mua của một một người đàn ông dân tộc H’Mông, không rõ địa chỉ, tự giới thiệu tên là D nhà ở huyện M, tỉnh Điện Biên được 01 gói Heroine có trọng lượng 22,3 gam và 01 gói Methamphetamine gồm 270 viên (267 viên màu hồng và 03 viên màu xanh) có trọng lượng 26,56 gam với giá 10.000.000 đồng, sau khi mua được, C cất giấu số Heroine và Methamphetamine trên vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà, sau đó C đã sử dụng ngay tại nhà bằng hình thức "Hút" hết 10 viên Methamphetamin, một ít Heroine và đổi một ít Heroin cho H để lấy 1 bó củi me có giá trị là 50.000 đồng. Đến hồi 11 giờ cùng ngày Công an huyện Điện Biên đã phát hiện, bắt quả tang thu giữ tại nhà của C 21,15 gam Heroine và 26,56 gam Methamphetamine. Hồi 13 giờ 15 phút cùng ngày, Công an huyện Điện Biên khám xét khẩn cấp nơi ở của Lìu Ní C đã thu giữ tại dưới nền nhà đầu giường ngủ của Lìu Ní C 1,15 gam Heroine. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa C khẳng định số Methamphetamin và số Heroine còn lại (sau khi sử dụng và đổi một ít cho H) C cất giấu tại nhà với mục đích là để sử dụng dần.

Vì vậy hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội: Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: …

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

…

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này”.

Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

“ 1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Hành vi trên của Lìu Ní C được chứng minh tại: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ đồ vật tài liệu, niêm phong, mở niêm phong vật chứng của vụ án, kết luận giám định, các lời khai tại bản tự khai, biên bản hỏi cung bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Lìu Ní C là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Lìu Ní C về các tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét hành vi trên của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bởi nó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an và an toàn xã hội trên địa bàn huyện Điện Biên nói chung và trên địa bàn tỉnh Điện Biên nói chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, không có tiền sự, có 01 tiền án về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Trốn khỏi nơi giam nhưng đã được xóa án tích (Bản án số: 35/2012/HSST ngày 01/3/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ tỉnh Điện Biên xử phạt bị cáo 30 tháng tù đến ngày 25/12/2013 chấp hành xong hình phạt tù và trở về địa phương sinh sống). Nguyên nhân chính dẫn đến phạm tội là do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, nghiện chất ma túy nên đã dấn thân vào con đường phạm tội. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bố đẻ của bị cáo Lìu Mần X được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy để thể hiện sự khoan hồng của Đảng, Pháp luật của Nhà nước ta đối với người phạm tội, Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời đây cũng là điều kiện thuận lợi để bị cáo từ bỏ được ma túy sớm trở lại hòa nhập với gia đình và cộng đồng.

Về vật chứng vụ án: Theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 21,85 gam Heroin; 26,26 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại sau khi giám định và một bó củi me gồm 26 thanh củi là vật chứng của vụ án.

Lìu Ní C khai mua ma túy của một người đàn ông dân tộc H' mông tên là D nhà ở huyện M, tỉnh Điện Biên do bị cáo không biết rõ địa chỉ nên cơ quan điều tra không có đủ cơ sở đề điều tra làm rõ. Vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập việc xử lý đối với người này.

Xét hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Văn H: Sau khi đổi được ma túy, H đã sử dụng hết nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Ngày 28/8/2018, Công an huyện Điện Biên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H bằng hình thức cảnh cáo. Xét thấy việc xử phạt vi phạm hành chính của Công an huyện Điện Biên là đúng với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”; do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, thu nhập từ nghề làm ruộng thấp, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn và không có tài sản gì có giá trị tại địa phương nơi sinh sống. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Lìu Ní C phạm 02 tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và "Mua bán trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt:

* Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lìu Ní C 11 (Mười một) năm tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

* Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lìu Ní C 02 (Hai) năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt buộc Lìu Ní C phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là: 13 (Mười ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 21 tháng 8 năm 2018).

3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 21,85 gam Heroin; 26,26 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại của vụ án và một bó củi me gồm 26 thanh củi là vật chứng của vụ án.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/02/2019 giữa Công an huyện Điện Biên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

4. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lìu Ní C .

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo Lìu Ní C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/02/2019).

Cỡ chữ