vanban.org

Bản án 13/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 09/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lành Văn B phạm tội: Vận chuyển hàng cấm.

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lành Văn B 02 (hai năm) tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lành Văn B cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn là nơi cư trú của bị cáo để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lành Văn B - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lành Văn B phạm tội: Vận chuyển hàng cấm.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:13/2019/HS-ST
Ngày 09-5-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vi Văn Thanh

Bà Nông Bích Vân

- Thư ký phiên toà: Bà Vương Thị Choi - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Chu Văn Tới - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2019/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2019/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2019 đối với:

Bị cáo Lành Văn B, sinh ngày 22 tháng 6 năm 1999 tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn: Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lành Văn S và bà: Nông Thị N; Vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không có án tích, không bị xử phạt vi phạm hành chính,không bị xử lý kỷ luật; bị cáo bị tạm giam từ ngày 30/01/2019 đến ngày 08/5/2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp cho bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 29/01/2019 Lành Văn B cùng một số người trong thôn đi bốc hàng tại khu vực giáp biên giới với Trung Quốc cạnh mốc 1250, tại thôn N, xã T, huyện L. Sau khi bốc hàng xong Lành Văn B đi bộ theo đường mòn sang V, Trung Quốc vào một cửa hàng hỏi người phụ nữ bán hàng bằng tiếng dân tộc để mua pháo và biết có pháo bán Lành Văn B mua với người phụ nữ đó 04 (bốn) hộp pháo loại 49 (bốn mươi chín) quả/hộp với số tiền 140 NDT (một trăm bốn mươi nhân dân tệ) để mang về nhà đốt nhân dịp tết Nguyên Đán. Sau khi mua được pháo Lành Văn B cho toàn bộ số pháo vào trong túi nilon rồi vận chuyển theo đường mòn về Việt Nam và mang số pháo trên về nhà ở xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn cất vào trong bếp. Đến khoảng 04 giờ 30 ngày hôm sau 30/01/2019 Lành Văn B cho toàn bộ số pháo đã mua vào trong bao tải cho lên đằng trước xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Biển kiểm soát 12L1- 170.5X vận chuyển về nhà ở khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, khi vận chuyển ra đến khu vực thôn C, xã Y, huyện L thì bị lực lượng Công an huyện Lộc Bình phối hợp cùng Đồn công an C - Công an huyện Lộc Bình, phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật.

Tại biên bản xác định trọng lượng, chủng loại (pháo) ngày 30/01/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đã xác định được toàn bộ số pháo thu giữ của Lành Văn B có tổng trọng lượng 7,7 kg (Bẩy phẩy bẩy kilôgam).

Tại Bản kết luận giám định số: 80/KL-PC09 ngày 30/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn đã kết luận: Mẫu vật gửi đến giám định có chứa thuốc pháo, khi đốt có gây tiếng nổ.

Tại Bản cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 11/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Lành Văn B về tội: Vận chuyển hàng cấm được quy định tại điểm k, khoản 2, Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Lành Văn B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Cụ thể: Chiều ngày 29/01/2019, sau khi bốc hàng xong Lành Văn B đi bộ theo đường mòn sang V, Trung Quốc vào một cửa hàng hỏi người phụ nữ bán hàng để mua pháo, khi biết có pháo bán Lành Văn B mua với người phụ nữ đó 04 (bốn) hộp pháo loại 49 (bốn mươi chín) quả/hộp với số tiền 140 NDT (một trăm bốn mươi nhân dân tệ) để mang về nhà đốt nhân dịp tết Nguyên Đán. Sau khi mua được pháo Lành Văn B vận chuyển theo đường mòn về Việt Nam. Khoảng 04 giờ 30 ngày 30/01/2019 Lành Văn B vận chuyển toàn bộ số pháo đã mua về nhà ở khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng Công an huyện Lộc Bình phối hợp cùng Đồn công an C – Công an huyện Lộc Bình bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lành Văn B về tội: Vận chuyển hàng cấm; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lành Văn B phạm tội: Vận chuyển hàng cấm. Căn cứ vào điểm k khoản 2 Điều 191, điểm s, điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Lành Văn B từ 24 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có việc làm, không có thu nhập, không có tài sản riêng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Tịch thu, tiêu hủy 01 bao tải dứa màu vang có chữ Trung Quốc bên ngoài vỏ bao, kích thước bao 57 cm x 91 cm đã qua sử dụng không còn giá trị; tịch thu, hóa giá 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 12L1-170.5X nhãn hiệu Yamaha màu sơn Đen – Trắng là phương tiện vận chuyển pháo.

Lời nói sau cùng của bị cáo Lành Văn B: Bị cáo đã nhận thấy lỗi lầm của bản thân, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội làm lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; do đó có căn cứ xác định: Ngày 29/01/2019 Lành Văn B đi bộ theo đường mòn sang V, Trung Quốc mua 04 (bốn) hộp pháo nổ loại 49 quả/hộp có tổng trọng lượng 7,7 kg để mang về Việt Nam để đốt trong dịp tết Nguyên đán. Tại bản kết luận giám định số:80/KL-PC09 ngày 30/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn đã kết luận: Mẫu vật gửi đến giám định có chứa thuốc pháo, khi đốt có gây tiếng nổ. Với hành vi trên, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lành Văn B phạm tội: Vận chuyển hàng cấm, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm k khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến trật tự trị an địa phương. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi vận chuyển pháo nổ là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước Việt Nam đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và lưu thông hàng hóa. Hành vi mà bị cáo gây ra cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục, răn đe và phòng ngừa. Để có căn cứ quyết định hình phạt, ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xem xét đến đặc điểm về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Xét nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tại địa phương bị cáo chấp hành tốt các quy định của pháp luật, ngoài lần phạm tội này bị cáo không phạm tội nào khác, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Do vậy xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi bị cáo đang cư trú để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 4 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng ….", do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ (Biên bản xác minh ngày 11/02/2019) và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện: Bị cáo làm ruộng, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đã đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị này là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với người người phụ nữ Trung Quốc đã bán pháo nổ cho Lành Văn B do là người nước ngoài nên Cơ quan điều tra không làm rõ được để xử lý trong vụ án là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 5,775 kg pháo nổ còn lại sau khi đã trích mẫu để giám định, ngày 31/01/2019 Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đã tiêu hủy, việc tiêu hủy được thực hiện đúng trình tự quy định, Hội đồng xét xử thấy phù hợp với các quy định của pháp luật nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Tịch thu, hóa giá 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 12L1-170.5X, nhãn hiệu Yamaha màu sơn Đen – Trắng bị cáo đã sử dụng để vận chuyển hàng cấm.

Bị cáo bị kết án nên phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm k khoản 2 Điều 191, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lành Văn B phạm tội: Vận chuyển hàng cấm.

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lành Văn B 02 (hai năm) tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lành Văn B cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn là nơi cư trú của bị cáo để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Xử lý vật chứng:

Tịch thu, hóa giá sung quỹ Nhà nước 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 12L1-170.5X, nhãn hiệu Yamaha màu sơn Đen – Trắng bị cáo Lành Văn B. (Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 4 năm 2019).

4. Án phí

Bị cáo Lành Văn B phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

Căn cứ khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ