vanban.org

Bản án 13/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 27/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyªn bè bÞ c¸o Đoàn Bá T ph¹m téi “Trém c¾p tµi s¶n”.

Xö ph¹t: Đoàn Bá T 16 (Mười sáu) th¸ng tï về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 12/11/2018. Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự; khoản 1 và kho¶n 2 §iÒu 106 Bé luËt tè tông h×nh sù: Trả lại cho bị cáo Đoàn Bá T 01 điện th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Bá T- phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyªn bè bÞ c¸o Đoàn Bá T ph¹m téi “Trém c¾p tµi s¶n”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HIỆP HÒA
TỈNH BẮC GIANG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2019/HS-ST
Ngày 27- 02- 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn X Toàn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn X Trường.

Ông Trương Đức Lâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Mai- Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đoàn Bá T- sinh ngày tháng năm 1992 tại xã S, huyện T, tỉnh B. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T, xã S, huyện T, tỉnh B; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đoàn Bá Th, sinh năm 1960 và bà: Trần Thị Y, sinh năm 1969; Vợ: chưa có; con: chưa có; tiền án: Bản án số 34/2016/HSST ngày 09/6/2016, Tòa án nhân dân huyện Việt Yên xử 02 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2018; tiền sự: không; nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/11/2018 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang- Có mặt.

- Bị hại: Bà Hà Thị H, sinh năm 1974; Địa chỉ: Đội 7, thôn B, xã N, huyện H, tỉnh B- Vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Khắc X, sinh năm 1968; Địa chỉ: Đội 7, thôn B, xã N, huyện H, tỉnh B- Vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng:

1. Anh Lưu Văn T, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn S, xã L, huyện H, tỉnh B- Vắng mặt.

2. Anh Lưu Văn Th, sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn S, xã L, huyện H, tỉnh B- Vắng mặt.

+ Người định giá tài sản: Bà Nguyễn Thị V- Chủ tịch Hội đồng; bà Vũ Thị V- thành viên thường trực; ông Nguyễn Hữu Q- thành viên; ông Trần Đình H-thành viên; ông Bùi Đức C- thành viên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 9 giờ ngày 12/11/2018, Nguyễn Anh H- sinh năm 1991 ở thôn N, xã S, huyện T, tỉnh B gọi điện thoại rủ Đoàn Bá T đến nhà H chơi. đi xe mô tô BKS: 98M6- 9298 đến nhà H, sau đó H rủ T đi chơi. Khi đi, H điều khiển xe mô tô BKS: 98M6- 9298 đèo T đi quanh khu vực xã S, huyện T, tỉnh B sau đó đi sang địa bàn huyện Hiệp Hòa. Khi đi đến khu vực cánh đồng thuộc địa phận đội 7, thôn B, xã N, huyện H thì thấy có 01 chiếc xe mô tô loại xe Honda Dream, BKS:98N9- 9646 của chị Hà Thị H- sinh năm 1974 ở thôn B, xã N dựng ở rìa đường bê tông, còn chị H phun thuốc trừ sâu ở ruộng ngô gần đó. Thấy xe không khóa cổ, khóa càng, không có ai trông coi, H đỗ xe lại để T xuống xe và đi đến gần chiếc xe của chị H rồi giả vờ gọi “có ai không” nhưng không thấy ai trả lời. T lấy trong túi 01 con dao (loại dao gấp) mang theo từ trước và dùng lưỡi dao chọc vào ổ khóa và cậy mở được ổ khóa điện. Sau đó, H điều khiển xe mô tô BKS: 98M6- 9298 đi trước, còn T nổ máy và điều khiển chiếc xe mô tô BKS:98N9- 9646 vừa trộm cắp được của chị H đi sau. Khi nghe tiếng xe máy nổ, chị H từ ruộng ngô đi lên bờ thì phát hiện thấy T đang điều khiển chiếc xe mô tô của mình bỏ chạy về phía thôn S, xã L, huyện H, chị H liền hô hoán thì những người dân ở gần đó đã truy đuổi và bắt được T, thu giữ chiếc xe mô tô T vừa trộm cắp được của chị H và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia model 106-1 màu đỏ đen của T; còn Nguyễn Anh H chạy thoát. Sau đó, người dân ở đó đã báo Công an xã Lương Phong và Công an huyện Hiệp Hòa lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đoàn Bá T.

Ngày 13/11/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa ra Quyết định số 42/QĐ trưng cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hiệp Hòa định giá chiếc xe mô tô mà Đoàn Bá T đã trộm cắp của chị Hà Thị H ngày 12/11/2018. Tại kết luận số 30/KL-HĐĐG ngày 16/11/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hiệp Hòa kết luận: 01(một) chiếc xe môtô, nhãn hiệu Honda Dream, BKS: 98N9- 9646 có giá là 14.000.000đồng(mười bốn triệu đồng).

Quá trình điều tra, Đoàn Bá T đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của mình như đã nêu trên.

Ngày 19/11/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa đã ra quyết định xử lý vật chứng số 01 trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS: 98N9- 9646 cho chị Hà Thị H. Chị H đã nhận lại chiếc xe và không yêu cầu gì về dân sự, chỉ đề nghị xử lý nghiêm hành vi trộm cắp của Đoàn Bá T theo pháp luật.

Từ hành vi trộm cắp tài sản nêu trên của bị cáo Đoàn Bá T, tại bản cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 21/01/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Đoàn Bá T ra trước Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa công khai sơ thẩm, bị cáo T thừa nhận đã có hành vi trộm cắp tài sản như cáo trạng truy tố và nội dung vụ án đã tóm tắt nêu trên, rất hối hận về việc làm của mình, thành khẩn khai báo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo.

Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (bà Hà Thị H và ông Nguyễn Khắc X) trình bày: Chiếc xe mô tô bị cáo trộm cắp của bị hại bị hỏng ổ khóa điện nhưng không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự, đề nghị xử lý bị cáo về hình sự theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyªn bè bÞ c¸o Đoàn Bá T ph¹m téi “Trém c¾p tµi s¶n”.

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 331; Điều 332, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Xö ph¹t: Đoàn Bá T tõ 15 th¸ng tù ®Õn 18 th¸ng tï về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 12/11/2018.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự; khoản 1 và kho¶n 2 §iÒu 106 Bé luËt tè tông h×nh sù: Trả lại cho bị cáo Đoàn Bá T 01 điện thoại Nokia, model 106-1 số imei 359997/05/079859/8, màu đỏ đen là tài sản của bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

- VÒ ¸n phÝ: ¸p dông §iÒu 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về ¸n phÝ, lÖ phÝ Tßa ¸n; §iÒu 136 Bé luËt tè tông h×nh sù: Bị cáo Đoàn Bá T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Việc truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo và mức án do kiểm sát viên đề nghị là có căn cứ và đúng pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.

. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại Cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Tài sản bị cáo trộm cắp là chiếc xe mô tô trị giá 14.000.000đ. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận cho bị cáo Đoàn Bá T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang dao động và làm bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo để giáo dục riêng và góp phần răn đe phòng ngừa chung. Xét về nhân thân: Đối với bị cáo đã có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản, nay lại tiếp tục có hành vi phạm tội trộm cắp tài sản. Vì vậy, cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian đủ để bị cáo cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, xét bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, vì vậy cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần về hành phạt cho bị cáo khi lượng hình.

- Về trách nhiệm dân sự: Tại Cơ quan điều tra, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự, vì vậy trách nhiệm dân sự không đặt ra.

- Về vật chứng của vụ án: 01 điện thoại Nokia, model 106-1 số imei 359997/05/079859/8, màu đỏ đen là tài sản của bị cáo , cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với con dao dùng để cậy phá ổ khóa điện chiếc xe của chị H. Quá trình truy đuổi và bắt được , anh Lưu Văn Th- sinh năm 1981 ở thôn S, xã L, huyện H đã khám trong người thấy có 01 con dao (loại dao gấp) nên đã đưa cho anh Đặng Văn Tr- sinh năm 1979 ở thôn Đ, xã L, huyện H. Sau đó, anh Tr đã vứt con dao xuống mương nước thuộc cánh đồng thôn S, xã L, huyện H. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm con dao này nhưng không tìm thấy.

Đối với chiếc xe môtô BKS: 98M6- 9298 mà dùng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản. Qua xác minh, chiếc xe này là tài sản hợp pháp của ông Đoàn Bá Th- sinh năm 1960 (là bố T). Ông Th không biết việc dùng chiếc xe môtô của mình để đi trộm cắp tài sản. Đến khoảng 20 giờ ngày 12/11/2018, ông Th thấy có một thanh niên mang xe đến trả cho ông, ông không biết người đó là ai, ở đâu, nên Cơ quan điều tra không thu giữ chiếc xe trên. Vì vậy không xem xét trong vụ án này.

Đối với Nguyễn Anh H là đối tượng đi cùng Đoàn Bá T trộm cắp tài sản, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng hiện nay H không có mặt ở gia đình và địa phương, H đi đâu, làm gì không rõ. Do vậy, Cơ quan điều tra đã tách hành vi của H ra để xem xét xử lý sau. Vì vậy, không xem xét xử lý trong vụ án này.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyªn bè bÞ c¸o Đoàn Bá T ph¹m téi “Trém c¾p tµi s¶n”.

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 331; Điều 332, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Xö ph¹t: Đoàn Bá T 16 (Mười sáu) th¸ng tï về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 12/11/2018.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự; khoản 1 và kho¶n 2 §iÒu 106 Bé luËt tè tông h×nh sù: Trả lại cho bị cáo Đoàn Bá T 01 điện thoại Nokia, model 106-1 số imei 359997/05/079859/8, màu đỏ đen là tài sản của bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

- VÒ ¸n phÝ: ¸p dông §iÒu 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về ¸n phÝ, lÖ phÝ Tßa ¸n; §iÒu 136 Bé luËt tè tông h×nh sù: Bị cáo Đoàn Bá T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

B¸o cho bÞ c¸o có mặt biÕt ® îc quyÒn kh¸ng c¸o trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt ® îc quyÒn kh¸ng c¸o trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy được tống đạt bản án vắng mặt. N¬i nhËn:

Cỡ chữ