vanban.org

Bản án 13/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương Tuyên án 19/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!
HUYỆN!CẨM!GIÀNG!
TỈNH!HẢI!DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2019/HS-ST
Ngày: 19 -03-2019.

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!CẨM!GIÀNG,!TỈNH!HẢI!DƯƠNG! ! ! ! !

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Hồng Hà.

Ông Dương Văn Ngạn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Giàng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng tham gia phiên toà: Bà Tống Thị Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 03 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2019/TLST- HS ngày 04 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2019/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

!Đinh!Thị!Kim!V,!sinh năm 1969 tại xã TT, huyện TH, tỉnh HD; Nơi cư trú: Khu 6, phường VH, thành phố HD, tỉnh HD; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Công Q (đã chết) và bà Đỗ Thị T5 (đã chết); chồng Lương Văn P, sinh năm 1964; Có 02 con, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1999; Gia đình có 05 chị em, bị cáo là thứ năm; Tiền án, tiền sự: chưa.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12-01-2019 đến ngày 15-01-2019 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (có mặt).

- Người làm chứng:!!

+ Chị Lò Thị Th, sinh năm 1999.

Địa chỉ: Bản S, xã QC, huyện TG, tỉnh ĐB.

+!Anh Nguyễn Văn O, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Thôn TH, xã ĐK, huyện TM, tỉnh HD.

+ Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1962.

Địa chỉ: Thôn QD, xã TT, huyện CG, tỉnh HD.

+!Anh Vương Đức B, sinh năm 1971. !

Địa chỉ: Thôn QD, xã TT, huyện CG, tỉnh HD.

Đều vắng mặt tại phiên tòa.

!

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đinh Thị Kim V là chủ quán cà phê giải khát tại thôn QD, xã TT, huyện CG, tỉnh HD. Tháng 01-2019, Vi thuê chị Lò Thị Th làm nhân viên phục vụ tại quán. Do muốn thu lời bất chính nên V đã bàn bạc và thống nhất với chị Th nếu khách đến quán uống nước có nhu cầu mua dâm thì V sẽ dẫn dắt để chị Th đi bán dâm và trực tiếp thu tiền của khách với số tiền 300.000đồng một lần mua dâm. Số tiền thu trong mỗi lần bán dâm V được hưởng 120.000đồng, gái bán dâm được hưởng 130.000đồng, còn 50.000đồng trả tiền thuê phòng nghỉ.

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 11-01-2019, đối tượng tự khai là Lê Anh Tuấn, sinh năm 1988, ở thôn Bằng Quân, xã Cẩm Định, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương cùng với Nguyễn Văn O đến quán cà phê của V uống nước và đặt vấn đề mua dâm. Tại quán Tuấn trực tiếp đặt vấn đề mua dâm, V đồng ý và bảo Tuấn giá 300.000đồng cho một lần mua dâm (bao gồm cả tiền thuê phòng nghỉ). Sau khi thỏa thuận xong, V bảo chị Th đưa Tuấn sang nhà nghỉ Bình An (gần quán cà phê) để bán dâm cho Tuấn, còn anh O ngồi uống nước tại quán. Th và Tuấn sang nhà nghỉ Bình An (ở cùng thôn Quý Dương) gặp anh Vương Đức B là chủ nhà nghỉ thuê phòng 201 rồi cùng nhau lên phòng thực hiện hành vi mua bán dâm. Đến 22 giờ 40 phút cùng ngày, khi Th đang bán dâm cho Tuấn tại phòng 201 nhà nghỉ Bình An thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Giàng phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 bao cao su đã qua sử dụng, 01 vỏ bao cao su đã xé rách nhãn hiệu LETUSPROTECTYOU và thu giữ trong người Lê Anh Tuấn số tiền 300.000đồng.

Ngày 12-01-2019, Đinh Thị Kim V đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Giàng đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.

Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKSCG ngày 04-3-2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo Đinh Thị Kim V về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.

2

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương thực hành quyền công tố, trình bày luận tội: Giữ nguyên!quyết định đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Thị Kim V phạm tội “Môi giới mại dâm”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Thị Kim V từ 07 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đinh Thị Kim V cho UBND phường VH, thành phố HD, tỉnh HD quản lý giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu cho tiêu hủy 01 bao cao su đã qua sử dụng; 01 vỏ bao cao su nhãn đã bị xé rách nhãn hiệu LETUSPROTECTYOU; Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 300.000đồng.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số 97 ngày 25-11-2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Đinh Thị Kim V phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng trong phiên tòa: Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo là đúng, bị cáo không có ý kiến gì và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

!

!

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Giàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Lời khai của bị cáo Đinh Thị Kim V tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng tại cơ quan điều

3

tra, phù hợp với biên bản vụ việc và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 11-01-2019, tại quán cà phê giải khát do Đinh Thị Kim V làm chủ ở thôn Quý Dương, xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, Đinh Thị Kim V đã có hành vi làm trung gian môi giới, dẫn dắt chị Lò Thị Th bán dâm cho anh Lê Anh Tuấn nhằm thu lời bất chính. Đến 22 giờ 40 phút cùng ngày, khi chị Th và anh Tuấn đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại phòng 201 nhà nghỉ Bình An (ở cùng thôn Quý Dương) thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Giàng kiểm tra, phát hiện, thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và là một trong các nguyên nhân lây căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS và các bệnh xã hội khác, làm suy thoái nếp sống văn hóa, gây mất trật tự trị an trên địa bàn xã Tân Trường. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo nhận thức được hành vi dẫn dắt để người khác thực hiện việc mua bán dâm là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ vụ lợi mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (viết tắt TNHS): Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú. Đó là những tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù cũng không ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

4

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng trong vụ án:

- 01 bao cao su đã qua sử dụng; 01 vỏ bao cao su nhãn đã bị xé rách nhãn hiệu LETUSPROTECTYOU xác định là vật chứng của vụ án, không có giá trị nên tịch thu cho tiêu hủy.

- Số tiền 300.000đồng thu giữ trong người của Lê Anh Tuấn. Đây là số tiền Tuấn dùng để trả cho việc mua dâm nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

[6] Về án phí: Bị cáo Đinh Thị Kim V bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Các vấn đề khác:

- Đối với chị Lò Thị Th đã có hành vi bán dâm, ngày 21-02-2019 Công an huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 19/QĐ-XPVPHC là phù hợp. Đối với đối tượng mua dâm tự khai tên Lê Anh Tuấn quá trình làm việc, lợi dụng sơ hở đã bỏ trốn. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Giàng tiến hành xác minh tại địa phương như theo lời khai nhưng không xác định được nên không có căn cứ xử lý.

- Anh Nguyễn Văn G là người cho bị cáo V thuê nhà để mở quán cà phê nhưng không biết việc bị cáo V thực hiện hành vi môi giới mại dâm và anh Nguyễn Văn O đi đến quán cà phê nhưng không tham gia mua dâm nên không có căn cứ xử lý.

- Đối với anh Vương Đức B là chủ nhà nghỉ đã kịp thời trình báo Công an huyện Cẩm Giàng để làm rõ hành vi mua bán dâm của chị Lò Thị Th và anh Lê Anh Tuấn, nên không đặt ra xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

1. Căn cứ áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Thị Kim V phạm tội “Môi giới mại dâm”.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Thị Kim V 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Giao bị cáo cho UBND phường VH, thành phố HD, tỉnh HD quản lý giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách .

5

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bao cao su đã qua sử dụng; 01(một) vỏ bao cao su nhãn hiệu LETUSPROTECTYOU được dán kín trong 01 bì thư có chữ ký, đóng dấu niêm phong của Công an xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 bì thư được niêm phong có chữ ký của đối tượng và dấu niêm phong của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Cẩm Giàng bên trong đựng số tiền 300.000đồng.

Số vật chứng trên có tình trạng và đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an huyện Cẩm Giàng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng ngày 08-3-2019.

3.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/216/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đinh Thị Kim V phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ