- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án HNGĐST"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2019/HNGĐ-ST Ngày 17 - 5 - 2019 “V/v Ly hôn,tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Phạm Thị Tịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Ngần
2. Ông Nguyễn Văn Lâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Ý – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Lợi – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2018/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2019/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1993 (có mặt)
2. Bị đơn: anh Lê Ngọc V, sinh năm 1989 (vắng mặt).
Nguyên đơn; bị đơn cùng địa chỉ: khu phố H, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/11/2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Nguyễn Thị C trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: chị và anh V sau thời gian tìm hiểu đã tổ chức đám cưới vào năm 2014, đến năm 2016 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Long Phước, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng hơn ba năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không cùng quan điểm sống, không có sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc cho nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên hàn gắn, hòa giải nhiều lần nhưng mâu thuẫn vẫn không được giải quyết nên chị C khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Phước Long giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Ngọc V.
- Về con chung:
Vợ chồng có một con chung là cháu Lê Hạo T, sinh ngày 26/8/2015. Nguyện vọng của chị C khi ly hôn được quyền trực tiếp nuôi con chung cho đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con vì hiện nay anh V không có công việc ổn định, còn chị có công việc ổn định, làm chủ tiệm spa nên có khả năng chăm sóc con chung hơn anh V.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lê Ngọc V trình bày tại bản tự khai:
Anh và chị C, sau thời gian tìm hiểu đã tổ chức đám cưới năm 2014, đến năm 2016 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Long Phước, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước. Quá trình chung sống vợ chồng hay xảy ra việc cãi vã lẫn nhau nhưng mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng nên đề nghị được đoàn tụ.
Về con chung: vợ chồng có một con chung là cháu Lê Hạo T, sinh ngày 26/8/2015.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa: chị C vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Ý kiến của Viện kiểm sát:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tuân thủ và chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Chị Nguyễn Thị C khởi kiện yêu cầu “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với anh Lê Ngọc V đang cư trú tại khu phố H, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phước Long theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Lê Ngọc V đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Chị C và anh V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Long Phước, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước vào ngày 04 tháng 11 năm 2016, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy, nguyên nhân mâu thuẫn giữa nguyên đơn và bị đơn chưa xác định rõ được nhưng trên thực tế nguyên đơn và bị đơn đã không còn có sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau; bị đơn biết nguyên đơn khởi kiện xin ly hôn và đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn không đến tham gia các buổi làm việc cũng như hòa giải, từ đó có thể thấy bị đơn không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tại biên bản xác minh của khu phố nơi vợ chồng anh V chị C sinh sống, ban lãnh đạo khu phố cũng đã cung cấp thông tin về tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị C anh V là thường xuyên xảy ra cãi vã lẫn nhau. Từ những nhận định trên, xét thấy không cần thiết phải xác minh thêm về nguyên nhân mâu thuẫn giữa nguyên đơn và bị đơn, mà cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn Nguyễn Thị C.
Về con chung: xét yêu cầu xin được trực tiếp nuôi con chung của nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy cháu Lê Hạo T, sinh ngày 26/8/2015, hiện cháu T đang ở cùng chị C, xét về công việc, điều kiện kinh tế của chị C thì hiện tại chị C có công việc, thu nhập ổn định, có nơi ở ổn định nên cần chấp nhận yêu cầu xin được trực tiếp nuôi con chung của chị C, giao con chung cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Bị đơn không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị C không yêu cầu anh V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: chị C và anh V trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: chị C phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 và điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự ;
Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn,chị Nguyễn Thị C được ly hôn với anh Lê Ngọc V.
2. Về con chung:
Giao cháu Lê Hạo T, sinh ngày 26/8/2015 cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu T đủ18 tuổi.
Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con
Anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí:
Chị C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình không có giá ngạch, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị C đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006168 ngày 03 tháng 12 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước.
4. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án 17/5/2019; Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước; - VKSND thị xã Phước Long - Chi cục THADS thị xã Phước Long; -UBND phường L; - Các Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Thị Tịnh |