- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Quế L xin ly hôn ông Nguyễn Hữu K"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
T
N NH N N
C N H
H CH N H V T N M
TH NH PH B N TRE
Đ c l p - T do - H nh ph c
T NH B N TRE
Bản án số: 13/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 23-4-2019
V/v: “Xin ly hôn’’
NH N NH
N C C N H
H CH N H V T NAM
T
N NH N N TH NH PH BT - T NH B N T
V i Thành ph n Hội đ ng x t x sơ thẩm g m có:
Th m phán - Ch t a phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đoan Trang
Các H i th m nhân dân:
Bà Trần Thị Kim Mỹ
Bà Dương Thị Thanh Thúy
Thư ký ghi iên ản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Yến – Thư ký Tòa án.
Ngày 23 tháng 4 năm 2019 tại trụ s Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre x t x sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 60/2019/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2019 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra x t x số 33/2019/QĐXX-ST ngày 16 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Quế L, sinh năm 1978 (có mặt);
Nơi ĐKHKTT: Khu phố MT, Phường B, thành phố BT, tỉnh Bến Tre;
* Bị đơn:
Ông Nguyễn Hữu K, sinh năm 1978 (vắng mặt);
Nơi ĐKHKTT: Khu phố MT, Phường B, thành phố BT, tỉnh Bến Tre;
N
UN VỤ N:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai cũng nh t i phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Quế L trình bày:
Bà và ông Nguyễn Hữu K kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường N, thị xã BT (nay là thành phố BT), tỉnh Bến Tre vào ngày 21/12/2004. Hôn nhân do tự nguyện. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng trong thời gian đầu thì hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông K ham chơi cờ bạc, gây nợ nhiều lần, bà phải đứng ra trả nợ cho ông K hơn 04 tỷ đồng. Bà khuyên ông K nhiều lần nhưng ông K vẫn không thay đổi. Vợ chồng bà đã ly thân với nhau được 02 tháng nay. Ông K thời gian gần đây còn đánh đập bà và hâm dọa giết hai mẹ con bà. Hiện tại, bà xác định không còn tình cảm với ông K nên yêu cầu xin được ly hôn.
Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Hữu KH, sinh ngày 28/9/2005. Sau khi khi hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu ông Khang cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: hai bên tự thỏa thuận;
Về nợ chung: không có;
Ông Nguyễn Hữu K có đơn xin vắng mặt t i Tòa án và có lời trình bày: Ông và bà L kết hôn và có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân Phường N, thị xã BT (nay là thành phố BT), tỉnh Bến Tre vào ngày 21/12/2004. Tuy nhiên, do vợ chồng bất đồng quan điểm nên dẫn đến mâu thuẫn với nhau, mặc dù đã nhiều lần hàn gắn lại tình cảm vợ chồng nhưng vẫn không được. Nay vợ ông yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, ông cũng đồng ý ly hôn. Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Hữu KH, sinh ngày 28/9/2005. Sau khi khi hôn, ông đồng ý để bà L được tiếp tục nuôi con chung và ông không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: hai bên tự thỏa thuận; về nợ chung: không có.
NHẬN ĐỊNH C T
N:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đ ợc th m tra t i phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày c a đ ơng sự, H i đồng xét xử nhận định:
[1] X t đây là vụ án xin ly hôn, bị đơn hiện cư trú tại Phường B, thành phố BT nên căn cứ Điều 28 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố BT, tỉnh Bến Tre là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[2] Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Hữu K làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt ông. Do đó, căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành x t x vắng mặt đối với ông Nguyễn Hữu K là đúng quy định pháp luật.
[3] Bà Nguyễn Quế L và ông Nguyễn Hữu K kết hôn và có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân Phường N, thị xã BT (nay là thành phố BT), tỉnh Bến Tre ngày 21/12/2004 nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà L trình bày là do ông K ham chơi cờ bạc gây nợ, bà phải trả nợ hơn 04 tỷ đồng, bà có khuyên can nhưng ông K không thay đổi; ông K thì cho rằng do bất đồng quan điểm nên vợ chồng mâu thuẫn nhau. Vợ chồng bà đã ly thân với nhau được hai tháng, bà xác định không còn tình cảm với ông K nên yêu cầu ly hôn với ông K.
[4] X t thấy mâu thuẫn giữa bà L và ông K thực tế đã xảy ra, ông K có đơn xin giải quyết vắng mặt và đồng ý ly hôn với bà L. Vì vậy, Hội đồng x t x công nhận thuận tình ly hôn giữa bà L với ông K.
[5] Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Hữu KH, sinh ngày 28/9/2005. Sau khi ly hôn cho bà L được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là phù hợp với nguyện vọng của cháu H cũng như sự thỏa thuận của ông K và bà L. Ghi nhận bà L không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Nguyễn Hữu K được được quyền đến thăm, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
[6] Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, nên Hội đồng x t x không xem x t.
[7] Về nợ chung: Bà L, ông K khai không có, nên Hội đồng x t x không xem x t.
[8] Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000(Ba trăm nghìn) đồng bà Nguyễn Quế L phải nộp.
Vì các lẽ trên,
QUY T ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ các Điều 28, 35, 147 và Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội,
Tuyên x :
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Quế L, cụ thể tuyên:
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Quế L được ly hôn ông Nguyễn Hữu K.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Hữu KH, sinh ngày 28/9/2005. Sau khi ly hôn, bà Nguyễn Quế L được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung Nguyễn Hữu KH. Ghi nhận bà Nguyễn Quế L không yêu cầu ông Nguyễn Hữu K cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Nguyễn Hữu K được được quyền đến thăm, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Quế L và ông Nguyễn Hữu K khai tự thỏa thuận, nên Hội đồng x t x không xem x t.
- Về nợ chung: Bà Nguyễn Quế L và ông Nguyễn Hữu K khai không có, nên Hội đồng x t x không xem x t.
- Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000(Ba trăm nghìn) đồng, bà Nguyễn Quế L phải nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Nguyễn Quế L đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000991 ngày 18/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố BT, tỉnh Bến Tre.
“ Tr ờng hợp bản án, quyết định đ ợc thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ng ời đ ợc thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo quy định t i Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Trong thời hạn 15(mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bà Nguyễn Quế L được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án cấp trên x t x phúc thẩm.
Ông Nguyễn Hữu K vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm được quyền kháng cáo trong thời hạn 15(mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên x t x phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND TP Bến Tre; - TAND tỉnh Bến Tre; - Chi cục THADS TP Bến Tre; - UBND Phường N, TP Bến Tre; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. H ĐỒN ÉT Ử SƠ THẨM THẨM PH N – CH TỌ PH ÊN T (Đã ký) Nguyễn Thị Đoan Trang |