vanban.org

Bản án 13/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Khắc Thưởng đối với bà Nguyễn Thị Minh.

Ghi nhận sự tự nguyên thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Khắc Thưởng và bà Nguyễn Thị Minh. Về con chung: Xác định ông Thưởng và bà Minh có 02 con chung là Nguyễn Khắc Phong, sinh ngày 03/7/1978 và Nguyễn Khắc Vũ, sinh ngày 14/09/1980, hai con khỏe mạnh, đều đã thành niên. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Khắc Thưởng đối với bà Nguyễn Thị Minh.
  • Căn cứ chính? Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP Hướng…; Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 Về việc thi hành Luật Hôn nhân…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:13/2019/HNGĐ-ST
Ngày 23/4/2019
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chí

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thủy.

2. Bà Đỗ Thị Loan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Việt Cường – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Bà

Bùi Thị Thùy Ninh – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 60/2019/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2019, về việc tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:11/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 08/4/2019, giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Ông Nguyễn Khắc Thưởng, sinh năm 1952, Có mặt.

HKTT: tổ 6, Quyết Tiến, phường Yên Nghĩa, quận Hà Đông, Hà Nội.

+ Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Minh, sinh năm 1952, Có mặt.

HKTT: số 3 ngõ 8 Tản Đà, phường Nguyễn Trãi, quận Hà Đông, Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn ly hôn đề ngày 04/1/2019 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án nguyên đơn ông Nguyễn Khắc Thưởng trình bày: ông và bà Nguyễn Thị Minh lấy nhau tự nguyện, có tìm hiểu và có tổ chức đám cưới vào tháng 1 năm 1975 nhưng sau đó vợ chồng bận nhiều công việc, chưa hiểu biết pháp luật nên không đi đăng ký kết hôn. Việc tổ chức đám cưới được hai bên gia đình họ hàng tổ chức, sau khi tổ chức đám cưới xong vợ chồng về chung sống hạnh phúc với nhau từ tháng 1 năm 1975 đến đầu năm 2018 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và đến tháng 5 năm 2018 ông chuyển về ở tại phường Yên Nghĩa, quận Hà Đông, vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi từ đó đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên ông xin ly hôn bà Minh.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng ông bà có 02 con chung là Nguyễn Khắc Phong, sinh ngày 03/7/1978 và Nguyễn Khắc Vũ, sinh ngày 14/09/1980, hai con khỏe mạnh, đều đã thành niên và có gia đình riêng.

Về tài sản chung của vợ chồng: Ông bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về vay nợ chung của vợ chồng: Không có.

Bị đơn: bà Nguyễn Thị Minh trình bày tại bản tự khai và tại các biên bản hòa giải: Bà và ông Thưởng lấy nhau tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới vào tháng 1 năm 1975. Sau khi cưới xong vợ chồng về chung sống với nhau từ tháng 1 năm 1975, nhưng do bận công việc, đồng thời quên không đi đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng chung sống hạnh phúc từ tháng 1 năm 1975 đến đầu năm 2018 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và đến tháng 5 năm 2018 ông Thưởng chuyển về sống tại phường Yên Nghĩa, quận Hà Đông, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay ông Thưởng có đơn xin ly hôn, bà thấy tình cảm vợ chồng không còn nên cũng đồng ý thuận tình ly hôn với ông Thưởng.

Về con chung: Bà thống nhất với ông Thưởng là quá trình chung sống vợ chồng ông bà có 02 con chung là Nguyễn Khắc Phong, sinh ngày 03/7/1978 và Nguyễn Khắc Vũ, sinh ngày 14/09/1980, hai con khỏe mạnh, đều đã thành niên và có gia đình riêng.

Về tài sản chung của vợ chồng: Bà và ông Thưởng thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về vay nợ chung của vợ chồng: Không có.

Anh Nguyễn Khắc Phong và anh Nguyễn Khắc Vũ là con của ông Thưởng và bà Minh đều thống nhất trình bày: hai anh chung sống với bố mẹ là ông Thưởng và bà Minh từ khi sinh ra; ông Thưởng và bà Minh sống chung sống hạnh phúc với nhau nhiều năm. Đến đầu năm 2018 mới phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, đến tháng 5 năm 2018 ông Thưởng chuyển về nhà tại phường Yên Nghĩa, quận Hà Đông ở nên ông, bà sống ly thân từ đó đến nay. Quá trình chung sống với bố mẹ hai anh không có đóng góp gì vào tài sản của bố mẹ; cũng như không có tài sản gì liên quan đến ông Thưởng và bà Minh.

Theo xác nhận của Ủy ban nhân dân phường Nguyễn Trãi, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội ngày 30/01/2019, xác nhận: bà Nguyễn Thị Minh có chồng là ông Nguyễn Khắc Thưởng.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Hà Đông (Thẩm phán, Thư ký tòa án) đã thụ lý, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử theo đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị tòa án chấp yêu cầu cầu xin ly hôn của ông Thưởng đối với bà Minh và công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Thưởng và bà Minh; về con chung đã thanh niên nên không xem xét giải quyết; về tài sản chung ông Thưởng và bà Minh tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết và về vay nợ chung: không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Khắc Thưởng khởi kiện yêu cầu ly hôn bà Nguyễn Thị Minh nên thuộc tranh chấp về Ly hôn theo khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn bà Nguyễn Thị Minh có hộ khẩu thường trú tại: phường Nguyễn Trãi, quận Hà Đông, Hà Nội nên thuộc thẩm quyền thụ lý của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa ông Nguyễn Khắc Thưởng và bà Nguyễn Thị Minh được xây dựng trên cơ sở có tìm hiểu, tự nguyện, đủ điệu kiện kêt hôn nhưng không đăng ký kết hôn. Vợ chồng đã được hai bên gia đình tổ chức hôn lễ và về chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 1 năm 1975 đến tháng 5 năm 2018 nên thuộc trường hợp khuyến khích đăng ký kết hôn theo quy định tại điểm a Mục 3 Nghị Quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Mục 1 Thông tư liên tịch số: 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị Quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, nên xác định hôn nhân giữa ông Thưởng và bà Minh là hôn nhân hợp pháp kể từ ngày xác lập tháng 1 năm 1975. Quá trình chung sống vợ chồng chung sống hạnh phúc từ tháng 1 năm 1975 đến đầu năm 2018 phát sinh mâu thuẫn do không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống và sống ly thân từ tháng 5 năm 2018 đến nay. Nay ông Thưởng có đơn xin ly hôn bà Minh vì tình cảm vợ chồng không còn, bà Minh đồng ý ly hôn. Nên cần chấp nhận yêu cầu của ông Thưởng về việc xin ly hôn bà Minh và ghi nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn của ông Thưởng và bà Minh.

Về con chung: Xác định ông Thưởng và bà Minh có 02 con chung là Nguyễn Khắc Phong, sinh ngày 03/7/1978 và Nguyễn Khắc Vũ, sinh ngày 14/09/1980, hai con khỏe mạnh, đều đã thành niên và có gia đình riêng.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về vay nợ chung: Không có.

Về án phí: Ông Thưởng phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 135; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 55 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a Mục 3 Nghị Quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Mục 1 Thông tư liên tịch số: 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị Quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Khắc Thưởng đối với bà Nguyễn Thị Minh.

Ghi nhận sự tự nguyên thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Khắc Thưởng và bà Nguyễn Thị Minh.

2. Về con chung: Xác định ông Thưởng và bà Minh có 02 con chung là Nguyễn Khắc Phong, sinh ngày 03/7/1978 và Nguyễn Khắc Vũ, sinh ngày 14/09/1980, hai con khỏe mạnh, đều đã thành niên.

3. Về tài sản chung: ông Thưởng và bà Minh tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.

4. Về vay nợ chung: Không có.

5. Về án phí: ông Thưởng phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai số 0002307 ngày 23/01/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

6. Về quyền kháng cáo: ông Thưởng và bà Minh có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ