vanban.org

Bản án 13/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ của chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn P là quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Con Nguyễn Thị Bình N, sinh ngày 09-02-2000 đã thành niên không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con Nguyễn Văn D, sinh ngày 13-11-2007. Anh P không có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết về hôn nhân và con chung với anh Nguyễn Văn P"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ của chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn P là quan hệ vợ chồng.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DMC
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 09-5-2019
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DMC, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thiều Thị Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trịnh Thúy Cơ;

2. Bà Đỗ Thị Thanh Loan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Phương, Thư ký Tòa án nhân dân Huyện DMC.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện DMC tham gia phiên toà: Ông Phan Thanh Nhã, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện DMC xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 199/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2019 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1978. Địa chỉ cư trú: Tổ 05, ấp PA, xã Phước N, Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn P; sinh năm: 1975. Địa chỉ cư trú: Tổ 05, ấp PA, xã Phước N, Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 27-3-2019 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị và anh P tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1999, không đăng ký kết hôn, đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn, sống hạnh phúc đến năm 2016 phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân: Do bất đồng quan điểm sống, anh P thường xuyên uống rượu về nhà kiếm chuyện chửi và đuổi chị ra khỏi nhà Nều lần, vợ chồng sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh P.

Bị đơn anh Nguyễn Văn P trình bày:

Anh thừa nhận lời trình bày của chị H về thời gian chung sống, không đăng ký kết hôn, đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn, mâu thuẫn do vợ chồng hay cải nhau, bất đồng quan điểm sống. Nay anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị H.

Về con chung: Có hai con Nguyễn Thị Bình N, sinh ngày 09-02-2000 và Nguyễn Văn D, sinh ngày 13-01-2007. Riêng con tên N đã thành niên, không đặt ra yêu cầu giải quyết.

Hai anh chị thỏa thuận chị H tiếp tục nuôi con tên D, không yêu cầu anh P có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh có ý kiến như sau:

Về Tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, không vi phạm về Tố tụng.

Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: chị H và anh P tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1999 đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn đối chiếu theo quy định của pháp luật thì không công nhận là vợ chồng.

Về con chung: Con tên Nguyễn Thị Bình N, sinh ngày 09-02-2000 đã thành niên, không đặt ra yêu cầu giải quyết. Ghi nhận hai anh chị thỏa thuận chị H tiếp tục nuôi con Nguyễn Văn D, sinh ngày 13-01-2007, không yêu cầu anh P có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung và nợ chung: Hai anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị H phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Về nội dung: Chị H và anh P tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1999, không đăng ký kết hôn, đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn. Tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định”; Điều 9 quy định “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý’’ và tại Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 còn quy định “... Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”.

Do đó quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh P không được pháp luật công nhận là quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Con Nguyễn Thị Bình N, sinh ngày 09-02-2000 đã thành niên không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hai anh chị thỏa thuận, chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con Nguyễn Văn D, sinh ngày 13-11-2007. Anh P không có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh đề nghị không công nhận quan hệ hôn nhân của chị H và anh P là vợ chồng. Về con chung: Con Nguyễn Thị Bình N, sinh ngày 09-02-2000 đã thành niên không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết. Hai anh chị thỏa thuận, chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con Nguyễn Văn D, sinh ngày 13-11-2007. Anh P không có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: chị H phải chịu theo quy định pháp luật; Hội đồng xét xử thấy đề nghị này có cơ sở chấp nhận.

Về án phí Hôn nhân và gia đình: Chị H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 8, 9, 14, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ của chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn P là quan hệ vợ chồng.

2. Về con chung: Con Nguyễn Thị Bình N, sinh ngày 09-02-2000 đã thành niên không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con Nguyễn Văn D, sinh ngày 13-11-2007. Anh P không có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

4. Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0011581 ngày 02-4-2019 tại Chi cục thi hành án dân sự Huyện DMC, tỉnh Tây Ninh, chị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ