- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Phượng Linh ly hôn ông Nguyễn Thành Cao"
- Tòa quyết gì? Tố tụng Dân sự năm 2015, các Điều 51, 56, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2019/HNGĐ-ST Ngày: 07-5-2019 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Luốc.
2. Bà Dương Thị Ngọc Trang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lữ Minh Vũ - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân
huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.
Ngày 07 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ xét
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm
2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
09/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Phượng L - Sinh năm 1986 - Địa chỉ: Ấp 3, xã Mỹ
Thạnh B, huyện Đ, tỉnh A. (Vắng mặt - có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thành C - Sinh năm 1985 - Địa chỉ: Ấp 3, xã Mỹ
Thạnh B, huyện Đ, tỉnh A. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 11/10/2018, các văn bản tiếp theo, nguyên đơn bà
Bùi Phượng L trình bày: Bà và ông Nguyễn Thành C cưới nhau vào tháng 11 năm
2008 và có đăng ký kết hôn ngày 05/10/2009 tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Thạnh B,
huyện Đ, tỉnh A. Vợ chồng sống chung hạnh phúc đến tháng 7/2015 thì thường
xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên
vợ chồng thường xuyên cãi vã. Bà và ông C ly thân từ tháng 8/2018 cho đến nay.
Về hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thành C.
Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Nhã T, sinh ngày
23/01/2010 và Nguyễn Nhã Y, sinh ngày 21/10/2017, hiện đang sống chung đang sống chung bà L. Khi ly hôn, bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng.
Về chia tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nguyên đơn bà Bùi Phượng L có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông
Nguyễn Thành C vắng mặt tại các phiên hòa giải và tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền: Bà Bùi Phượng L khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn
Thành C có hộ khẩu thường trú và hiện đang cư trú tại Ấp 3, xã Mỹ Thạnh B, huyện Đ, tỉnh A, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về tố tụng: Ông Nguyễn Thành C được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố
tụng của Tòa án như: Thông báo thụ lý vụ án số 01/TB-TLVA ngày 02/01/2019, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải số 20/TB-TA ngày 21/01/2019 nhưng ông C không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của ông, không có mặt để tham gia phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét đơn khởi kiện của bà L theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông C không được quyền khiếu nại về việc cung cấp chứng cứ, tham gia phiên hòa giải, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên tòa vì ông đã không có mặt theo thông báo và giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà theo quy định pháp luật.
Nguyên đơn bà Bùi Phượng L vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, ông
Nguyễn Thành C vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xét đơn khởi kiện của bà L và ông C theo khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Bà L và ông C chung sống có đăng ký kết hôn ngày
05/10/2009 tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Thạnh Bắc, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông C là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu ly hôn của bà L, Hội đồng xét xử nhận định: Bà L và ông C
đều không cung cấp chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình về nguyên nhân mâu thuẫn, tuy nhiên xét vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên thường xuyên cãi vã. Mâu thuẫn giữa bà L và ông C đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tự mỗi người lo cho bản thân, quan hệ vợ chồng chấm dứt từ khi ly thân tháng 8/2018 đến nay. Do đó, việc bà L yêu cầu ly hôn với ông C là có căn cứ và
phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên
Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét yêu cầu nuôi con chung của bà L, Hội đồng xét xử nhận định; cháu
Nguyễn Nhã T, sinh ngày 23/01/2010 có nguyện vọng sống với bà L khi ly hôn và
cháu Nguyễn Nhã Y, sinh ngày 21/10/2017, dưới 36 tháng tuổi, hiện hai con chung
đang sống với bà L và do bà L trực tiếp nuôi dưỡng từ khi bà và ông C sống ly thân
nên giao hai con chung cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều
81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét việc bà L không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung là tự
nguyện và phù hợp quy định tại các Điều 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2014.
Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà L trình bày không có tài sản
chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này phát sinh
tranh chấp, sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội, xét thấy: Bà L là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000
đồng tiền án phí ly hôn nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân
sự sơ thẩm đã nộp. Ông C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1
Điều 39, Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật
Tố tụng Dân sự năm 2015, các Điều 51, 56, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn
nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Về hôn nhân: Bà Bùi Phượng L được ly hôn với ông Nguyễn Thành C.
2. Về nuôi con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Nhã T, sinh ngày
23/01/2010 (theo nguyện vọng con chung) và Nguyễn Nhã Y, sinh ngày
21/10/2017, hiện đang sống chung đang sống chung bà L cho bà Bùi Phượng L trực
tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Thành C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông C được quyền thăm nom và chăm sóc con chung. Khi cần thiết vì lợi ích
con chung, bà L và ông C có quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con và yêu cầu
thay đổi khoản cấp dưỡng nuôi con theo luật hôn nhân và gia đình.
3. Về chia tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Bùi Phượng L phải chịu 300.000 đồng (ba
trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn, khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (theo biên lai thu số 0004380 ngày 02/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ). Bà L đã nộp đủ tiền án phí.
5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo thủ
tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đ; - CC. THADS huyện Đ; - Các đương sự; - UBND xã Mỹ Thạnh B (để ghi sổ hộ tịch) - Lưu: hồ sơ vụ án, án văn. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Triến |