- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án tranh chấp ly hôn giữa chị Cao Thị Mỹ T và anh Nguyễn Mộc Th"
- Tòa quyết gì? 1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị Mỹ T; Xử cho chị Cao Thị Mỹ T được ly hôn với anh Nguyễn Mộc Th.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2019/HNGĐ-ST Ngày: 18/3/2019 (V/v Tranh chấp xin ly hôn) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI - TỈNH BẠC LIÊU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Hải Đăng
Các hội thẩm nhân dân:
1/. Ông Nguyễn Minh Hoàng
2/. Ông Huỳnh Công Tuy
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mộng Nghi - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải tham gia phiên tòa: Ông Trần Trung Kiên, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 433/2018/TLST-HN ngày 07 tháng 12 năm 2018 về việc “tranh chấp xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2019 giữa các đương sự:
1/. Nguyên đơn: Chị Cao Thị Mỹ T, sinh năm 1980
Địa chỉ: ấp TĐ, xã LĐ Đ, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu.
2/. Bị đơn: Anh Nguyễn Mộc Th, sinh năm 1975
Địa chỉ: ấp TĐ, xã LĐ Đ, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu.
(Chị T có mặt tại phiên tòa, anh Th vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 31/10/2018, lời khai trong quá trình tố tụng, cũng như lời trình bày tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Cao Thị Mỹ T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Nguyễn Mộc Th cưới nhau vào khoảng năm 2000, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương. Anh chị có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LĐ Đ và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.
Nguyên nhân ly hôn theo chị Cao Thị Mỹ T xác định: thời gian đầu chung sống với nhau thì vợ chồng anh chị sống hạnh phúc, nhưng sau khi cưới nhau được khoảng vài năm thì vợ chồng anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng và không còn hạnh phúc. Lý do chính là do anh Nguyễn Mộc Th thường xuyên cờ bạc, đá gà, không quan tâm lo lắng chăm sóc cho cuộc sống gia đình, vợ chồng anh chị thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng anh chị ly thân khoảng 01 năm nay. Nay nhận thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, vợ chồng cũng không thể hàn gắn lại được nên chị Cao Thị Mỹ T yêu cầu xin được ly hôn với chồng chị là anh Nguyễn Mộc Th.
Về quan hệ con chung: chị Cao Thị Mỹ T xác định thời gian chung sống vợ chồng anh chị có 02 người con chung tên Nguyễn Gia T, sinh ngày 19/7/2003 và Nguyễn Anh T, sinh ngày 01/9/2012, hiện nay cả hai con đang sống với chị. Khi ly hôn chị Cao Thị Mỹ T yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh Th phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: chị Cao Thị Mỹ T xác định vợ chồng anh chị không có tài sản chung, không có nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng anh chị. Khi ly hôn chị Cao Thị Mỹ T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Đối với anh Nguyễn Mộc Th: Mặc dù anh Th đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập làm việc và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Th vẫn không đến Tòa án để làm việc theo nội dung giấy triệu tập của Tòa án, và cũng không có lý do chính đáng. Do đó, Tòa án sẽ tiến hành giải quyết vắng mặt đối với anh Th theo đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm chị T xác định chị vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với anh Th, chị xác định không còn tài liệu, chứng cứ để cung cấp thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn anh Nguyễn Mộc Th chấp hành chưa nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về nội dung vụ án: giữa chị T và anh Th kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nhưng do thời gian chung sống anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn không hàn gắn được, hiện tại chị T xác định chị không còn tình cảm với anh Th. Điều này chứng tỏ như vậy cuộc sống vợ chồng của chị T và anh Th nếu tiếp tục kéo dài thì cũng không còn hạnh phúc, tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân của anh chị không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị T được ly hôn với anh Th là phù hợp với quy định của pháp luật;
Về con chung: Từ lúc vợ chồng chị T và anh Th ly thân với nhau thì 02 người con tên Nguyễn Gia T, sinh ngày 19/7/2003 và Nguyễn Anh T, sinh ngày 01/9/2012 là do chị T trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục. Chị T vẫn đảm bảo về điều kiện nuôi con và sự phát triển của con sau này. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giao cả hai người con cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục là hoàn toàn phù hợp.
Anh Th có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở. Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Khi ly hôn chị T và anh Th không đặt ra yêu cầu, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí thì chị T phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: chị T có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với anh Th. Anh Th có địa chỉ cư trú tại huyện Đông Hải. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đông Hải.
Anh Th đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng anh Th vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Th.
Về nội dung vụ án: giữa chị T và anh Th kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, đã được Ủy ban nhân dân xã Long Điền Đông cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 19/02/2004 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh Th thì Hội đồng xét xử thấy rằng: mục đích của hôn nhân là để tạo dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng phải biết yêu thương, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng nhau tiến bộ. Nhưng thời gian chung sống chị T và anh Th lại không làm được, mà còn phát sinh nhiều mẫu thuẫn không thể hàn gắn lại được. Anh chị cũng đã ly thân khoảng 01 năm qua. Trong thời gian qua cả hai anh chị đều không có biện pháp cụ thể nào để thể hiện anh chị muốn hàn gắn lại với nhau, anh chị không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Tại phiên tòa chị T vẫn cương quyết xin ly hôn với anh Th, chị xác định hiện tại chị không còn tình cảm gì với anh Th, nếu vợ chồng quay về với nhau thì cuộc sống chung cũng không còn hạnh phúc. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm của vợ chồng phải được xuất phát từ hai phía, nhưng phía chị T xác định hiện tại chị đã không còn tình cảm gì với anh Th, như vậy chứng tỏ cuộc sống vợ chồng của chị T và anh Th là không thể hàn gắn lại được, cuộc sống chung đã không còn hạnh phúc, tình trạng hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh Th là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.
Về nuôi con chung: Từ lúc vợ chồng chị T và anh Th ly thân với nhau thì 02 người con tên Nguyễn Gia T, sinh ngày 19/7/2003 và Nguyễn Anh T, sinh ngày 01/9/2012 là do chị T trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục. Chị T vẫn đảm bảo về điều kiện nuôi con và sự phát triển của con sau này. Hơn nữa nguyện vọng của người con tên Nguyễn Gia T là muốn được tiếp tục sống cùng với chị T. Do đó Hội đồng xét xử quyết định giao cả hai người con cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục là hoàn toàn phù hợp.
Về mức cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Anh Th có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: chị T và anh Th không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị Mỹ T; Xử cho chị Cao Thị Mỹ T được ly hôn với anh Nguyễn Mộc Th.
2/. Về nuôi con chung: Giao cả hai người con tên Nguyễn Gia T, sinh ngày 19/7/2003 và Nguyễn Anh T, sinh ngày 01/9/2012 cho chị Cao Thị Mỹ T được tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục.
Anh Nguyễn Mộc Th có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.
Về mức cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết. Tạm thời miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Mộc Th.
3/. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không đặt ra xem xét giải quyết.
4/. Về án phí hôn nhân và gia đình: chị Cao Thị Mỹ T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0011462 ngày 07 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hải.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho chị Cao Thị Mỹ T biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Anh Nguyễn Mộc Th được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BL - VKSND huyện Đông Hải - THA huyện Đông Hải - UBND xã LD Đ - Các đương sự; - Lưu HS vụ án; | đã ký Lưu Hải Đăng |