vanban.org

Bản án 13/2019/DS-ST — Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn H về viê ̣c buô ̣c ông Phạm Minh T phải trả lại diê ̣n tich đất lấn chiếm có kích thước dài 12,5m x

rô ̣ng 0,55m = 6,9m2 (có sơ đồ kèm theo). Không chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn H về viê ̣c buô ̣c ông Phạm Minh T tháo dở phần xây dựng tầng hai có kích thước dài 12,5m x rô ̣ng 0,55m = 6,9m2, vì phần xây dựng lấn sang đa đượ̃ Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất — án dân sự — "bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn H khỏi kiện ông Phạm Minh T"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn H về viê ̣c buô ̣c ông Phạm Minh T phải trả lại diê ̣n tich đất lấn chiếm có kích thước dài 12,5m x
  • Căn cứ chính? Điều 203 Luật Đất đai; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BỐ TRẠCH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2019/DS - ST
Ngày: 28 - 11 - 2019
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
vàtài sản trên đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

́

TÒA ÁN NHÂN DÂNHUYỆN BÔ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Quảng

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Văn Cao và bà Nguyễn Thuỳ Hương.

- Thư ký phiên tòa:Ông Phan Anh Đứ c - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thi ̣ Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyê ̣n Bố Tra ̣ch, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2018/TLST - DS ngày 03 tháng 4 năm 2018, về viê ̣c “tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2019/QĐXXST- DS ngày 14 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Lê Thi ̣ T, sinh năm 1973 và ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1972; Địa chỉ cư trú: thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình (ông H uỷ quyền lại cho bà T tham gia tố tu ̣ng), có mặt;

- Ngườ i bảo vê ̣ quyền và lợi ich hợp pháp của nguyên đơn : ông Huỳnh My L,̃

́

sinh năm 1972; Đơn vi ̣ công tác: Công ty luâ ̣t TNHH T – Đoàn Luâ ̣t sư TP H; Trụ sở đóng ta ̣i: 201 - A3, TT. T, Phườ ng T, Quâ ̣n B, TP Hà Nô ̣i,vắng mặt tại phiên toà lần thứ 2 không có lý do.

- Bị đơn: ông Pha ̣m Minh T , sinh năm 1954; Địa chỉ cư trú: thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

- Ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Lê Thị L, sinh năm 1963; Địa chỉ cư trú: thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình (Uỷ quyền cho ông Phạm Minh T tham gia tố tu ̣ng).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04 tháng 12 năm 2017, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn H uỷ quyền cho bà Thu trình bày:

Năm 2005, vợ chồng ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị M bị Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh huyện Bố Trạch(gọi tắt là Ngân hàng) phát mại tài sản thế chấp. Sau đó giữa Ngân hàng và vợ chồng ông L thống nhất để vợ chồng ông L, bà M tự bán tài sản thế chấp để trả nợ Ngân hàng. Giữa vợ chồng ông L, bà M và vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị T đã ký kết hợp đồng chuyển quyền sử dụng 140 m2 đất tại thửa số 121, tờ bản đồ số 01 xã Đức Trạch, huyện Bố Trạch đã được Ủy ban nhân dân(viết tắt là UBND) huyện Bố Trạch cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng (viết tắt GCNQSDĐ) số H865945 ngày 15/12/1996 và tài sản trên đất, hợp đồng được UBND xã Đức Trạch, huyện Bố Trạch chứng thực. Sau đó UBND huyện Bố Trạch đã cấp cho vợ chồng ông bà Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 815698 ngày 28/02/2006, tuy nhiên diện tích đất chỉ còn 107 m2.

Cuối năm 2015, ông Nguyễn Minh T đào móng là m nhà trên đất của ông T (thử a đấ t số 123). Bà thấy ông T đào móng lấn sang đất của ông , bà với kích thước dọc theo nhà ông T dài 12,5m x rô ̣ng 0,55m (khoảng 7m2) và phần xây dựng tầng hai lấn sang cũng với diện tích dài 12,5m x rô ̣ng 0,55m (khoảng 7m2), bà đã báo với cán bô ̣ xa Đữ ́ c Tra ̣ch nhưng xã không giải quyết. Ông T xây dựng công trình trên đất của bà, đâ ̣p phá ô văng che cử a sổ (tiếng đi ̣a phương là mày che cử a sổ ) của nhà bà. Khi ông T xây dựng xong công trinh thi ngày 17/6/2016, Uỷ ban nhân dân xã Đức Trạch

̀

̀

mớ i tổ chứ c hoà giải nhưn g ông T không chi ̣u trả đất cho ô ng, bà. Ngày 10/8/2016, Uỷ ban nhân dân xã Đức Trạch tiếp tục tổ chức hoà giải nhưng không thành.

Nay bà làm đơn khở i kiê ̣n yêu cầu Toà án nhân dân huyê ̣n Bố Tra ̣ch giải quyết buô ̣c ông Nguyễn Minh T phải trả lại diện tích đất lấn chiếm dài 12,5m x rô ̣ng 0,55m (khoảng 7m2),buô ̣c tháo dở phần xây dựng tầng hai lấn sang cũng với diện tích dài 12,5m x rô ̣ng 0,55m (khoảng 7m2) và bồi thường ô văng che cửa sổ

(tiếng đi ̣a phương là mày che cử a sổ ) đa bi ̣̃ ông T khi xây dựng nhà đa đập phá, đỗ

̀ng thờ i sau đó bà trinh bày bổ sung yêu cầu huỷ giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất đa cẫ ́p cho

̀ ông, bà (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 815698 ngày 28/02/2006, diện tích đất 107 m2).

Bị đơn: Ông Pha ̣m Minh T và là người được người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan uỷ quyền trình bày:

Vợ chồng ông và bà Nguyễn Thi ̣ B (đa chết) mua la ̣̃

i đất của ông Nguyễn Tư R vào năm 1973. Đến năm 1997 mớ i được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất , diê ̣n tich đất này là của vợ chồng ông (vợ trướ c) không liên quan đến vợ sau Lê Thi ̣

́ L. Diê ̣n tich đất được c ấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất năm 1997 là 150m2,

́ đến năm 2010 được cấp đổi la ̣i thẻ hồng cũng vớ i diê ̣n tich 150m2, đến năm 2016

́ ông đa tă ̣̃ ng cho quyền sử du ̣ng đất cho cháu Pha ̣m Mi nh D (cháu nội của ông), tại thờ i điểm này đa tiến hã

̀nh đo đa ̣c la ̣i để làm giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣n

g đất mang tên Pha ̣m Minh D thì diện tích đất còn lại chỉ 126m2, như vâ ̣y ông bị thiếu mất 24m2đất so vớ i diê ̣n tich ban đầu . Nhưng ông cũng chấp nhận viê ̣c thiếu hu ̣t n ày và

́ không khiếu kiê ̣n ai . Khi làm giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đấ t 2016 mang tên Phạm Minh D, các hộ liền kề đều đồng ý ký vào hồ sơ tặng cho quyền sử du ̣ng đất đối vớ i Phạm Minh D, trong đó có vợ chồng Lê Thị T và Nguyễn Văn H. Năm 2016 ông làm nhà, khi xây dựng vợ chồng bà T, ông H không có ý kiến gi.

̀

Hiê ̣n nay bà Lê Thi ̣ T và ông Nguyễn Văn H khở i kiê ̣n ông lấn chiếm đất khoảng 7m2 (theo đơn khở i kiê ̣n)và yêu cầu bồi thường ô văng che cử a sổ (tiếng đi ̣a phương là mày che cử a sổ ) là không có căn cứ. Riêng phần xây máng nướ c trên tầng 2 có lấn sang đất của bà T, ông H kích thước chiều dài theo nhà là khoảng 6 mét, rô ̣ng khoảng 0,5m. Nếu vợ chồng bà T, ông H yêu cầu ôngtháo dở công trinh xây

̀ dựng trên thi ông sẻ tháo dở để trả la ̣i khoảng không cho bà T, ông H và trong quá

̀ trình chuẩn bi ̣ xét xử vụ án ông đa thã ́o dở toàn bô ̣ diê ̣n tich xây dựng này.

́

Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Lê Thị L hoàn toàn nhất trí với ý kiến của ông Phạm Minh T và đa uỹ ̉ quyền cho ông T tham gia tố tu ̣ng để giải quyết vụ án.

Kết quả xem xét thẩm đi ̣nh ta ̣i chổ, cụ thể (có sơ đồ kèm theo):

+ Thử a đất của bà Lê Thi ̣ T và ông Nguyễn Văn H tại thôn T, xã Đ, huyê ̣n B, tỉnh Quảng Bình có diện tích 104,5m2.

- Phía Bắc giáp đường đi, kích thước 3,9m + 2,8m + 7,7m.

- Phía Đông giáp đất bà T, ông H, kích thước 8,2m.

- Phía Nam giáp đất ông T , kích thước 9,9m và đấ t bà L , kích thước 1,8m + 2,8m.

- Phía Tây giáp đất ông T, kích thước 6,0m.

+ Thử a đất ông Phạm Minh T tại thôn T, xã Đ, huyê ̣n B, tỉnh Quảng Bình có diê ̣n tich 129,2m2.

́

- Phía Bắc giáp đất ông T , kích thước 3,8 +1,1m + 1,1m và giáp đất bà T, ông H, kích thước 9,9m.

- Phía Đông giáp đất bà L, kích thước 6,3m; Giáp đường đi, kích thước 1,6m + 0,8m và giáp đất bà L, kích thước 0,8m + 1,5m.

- Phía Nam giáp đất ông X, kích thước 5,6m + 0,2m + 7,5m.

- Phía Tây giáp đất bà H, kích thước 7,7m.

+ Khoảng hở tính từ mép tường nhà (mă ̣t trướ c) nhà bà T , ông H sang mép ngoài hàng rào nhà ông T là 16cm (hướ ng Đông); Từ khoảng hở này kéo do ̣c ra sau 03m thi khoảng cá ch giữa tườ ng nhà ông T và tường nhà bà T , ông H là 25cm;

̀ Khoảng hở sau cùng (thứ 3) giữa tườ ng nhà ông T và tườ ng nhà bà T, ông H là 13cm.

+ Phần xây dựng (dùng làm máng nướ c) tầng hai nhà ông T tính từ mép tườ ng nhà ông T có kích thước dài 6,15m, rô ̣ng 15cm.

+ Móng nhà ông T giáp nhà bà T, ông H (tính từ tường nhà ra mép ngoài của móng) có kích thước dài 6,15m, rô ̣ng 07cm.

Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện, bị đơn đồng thờ i đa ̣i diê ̣n theo uỷ quyền của ngườ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan nhất trí mô ̣t phần với việc khởi kiện của nguyên đơn. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên sơ thẩm phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Ở giai đoạn xét xử sơ thẩm các đương sự và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm không chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu ông Phạm Minh T trả lại 6,9m2 đất (12,5m x 0,55m); không chấp nhận yêu cầu của nguyê n đơn buô ̣c ông Phạm Minh T tháo dở 6,9m2 phần xây dựng trên không (tầng hai) nhà ông Thiện (12,5m x 0,55m) vì đã được ông Thiê ̣n tự nguyê ̣n tháo dỡ ; không chấp nhâ ̣n yêu cầu buô ̣c ông T phải bồi thường ô văng che cử a sổ (tiếng đi ̣a phương là mày che cử a sổ ) mà theo nguyên đơn đa bi ̣̃ ông T đâ ̣p phá khi xây dựng nhà vì không có căn cứ ;Không giải quyết yêu cầu huỷ giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất đa cẫ ́p cho ông , bà (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 815698 ngày 28/02/2006, diện tích đất 107 m2) vì yêu cầu này đã được Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng giải quyết tại Bản án số 16/2019/DS – PT ngày 18/3/2019.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; kết quả tranh luận, ý kiến của kiểm sát viên; nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vụ án,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị T khởi kiện yêu cầubuô ̣c ông Phạm Minh T phải trả lại diện tích đất lấn chiếm dài 12,5m x rô ̣ng 0,55m = 6,9m2 , buô ̣c tháo dở phần xây dựng tầng hai cũng vớ i diê ̣n tich dài 12,5m x rô ̣ng 0,55m = 6,9m2 và bồi

́

thườ ng ô văng che cử a sổ (tiếng đi ̣a phương là mày che cử a sổ ) đa bi ̣̃ ông Thiê ̣n khi xây dựng nhà đa đâ ̣̃ p phá, đồng thờ i sau đó trinh bày bổ sung yêu cầu huỷ giấy chứ ng

̀

nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất đa cẫ ́p cho ông , bà (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 815698 ngày 28/02/2006, diện tích đất 107 m2).

Xem xét, đánh giá các tài liê ̣u, chứ ng cứ , Hô ̣i đồng xét xử thấy:

Năm 1996, ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị M ở tại thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Bình được UBND huyện Bố Trạch cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH 865945 với diện tích 140m2 đất tại thửa số 121, tờ bản đồ số 01 xã Đ, huyện B.

Năm 2005, ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị T lập Hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ thửa số 121, tờ bản đồ số 01 xã Đ, huyện B, ngày 03/01/2006 UBND xã Đ tiến hành kiểm tra thực địa thửa đất để làm thủ tục chuyển nhượng thì diện tích thực tế thửa đất 121, tờ bản đồ số 01 xã Đ có diện tích 107,0 m2, việc đo đạc đã được các bên ký xác nhận số đo thực tế.

Căn cứ hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông L, bà M và ông H, bà T do UBND xã Đức Trạch chuyển đến, UBND huyện Bố Trạch đã hoàn tất thủ tục và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 815698 tại thửa 121, tờ bản đồ số 01, diện tích 107,0 m2 cho ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị T.

Theo bà T thì ngôi nhà vợ chồng ông, bà nhâ ̣n chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn L và vợ là Nguyễn Thị M hiê ̣n nay hiê ̣n tra ̣ng vẫn còn nguyên tra ̣ng , chưa có gi thay đổi so vớ i thờ i điểm nhâ ̣n chuyển nhượng.

̀

Quá trình sử dụng đất ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị T đa sữ ̉ du ̣ng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp này để thế chấp vay vốn Ngân hàng nhiều lần và không có ý kiến gi về viê ̣c thiếu diê ̣n tich theo hợp đồng chuyển nhượng

̀

́ nêu trên.

Quá trình giải quyết vụ án tranh chấp quyền sử du ̣ng đất và yêu cầu huỷ giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử dụng đất giữa bà T, ông H và ông T, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã tiến hành xem xét , thẩm đi ̣nh ta ̣i chổ đối vớ i diê ̣n ti ch đất của ông

́ Nguyễn Văn H, bà Lê Thị T như sau: Theo Giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất thi

̀ thửa số 121, tờ bản đồ số 01 xã Đức Trạch có diện tích 107 m2, kiểm tra thực tế thửa đất có diện tích 104,5m2.Kết quả xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân tinh Quảng

̉ Bình đã quyết định không chấp nhận yêu cầu khở i kiê ̣n của bà Lê Thị T tranh chấp quyền sử du ̣ng đất vớ i ông T , không chấp nhâ ̣n yêu cầu huỷ giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất đa cẫ ́p ta ̣i thử a đất số 121, tờ bản đồ số 01 xã Đức Trạch có diện tích 107m2cho bà T và ông H, do có kháng cáo của bà T nênToà án nhân dân cấp cao ta ̣i Đà Nẵng đa xẽ ́t xử phúc thẩm tại Bản án số 16/2019/DS – PT ngày 18/3/2019 không chấp nhâ ̣n yêu cầu kháng cáo của bà T, ông H và giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

Năm 1997 ông Pha ̣m Minh T được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất là 150m2, đến năm 2010 được cấp đổi la ̣i thẻ hồng cũng vớ i diện tích 150m2, đến năm 2016 ông T tă ̣ng cho quyền sử du ̣ng đất cho cháu Pha ̣m M inh D (cháu nội của ông), tại thời điểm này đã tiến hành đo đạc lại để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Pha ̣m Minh D thì diê ̣n tich đất còn la ̣i chi 126m2, như vâ ̣̉

y ông bi ̣

́

thiếu 24m2 so vớ i diê ̣n tich đất ban đầu.

́

Khi làm giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đấ t 2016 mang tên Pha ̣m Minh D, các hộ liền kề đều đồng ý ký vào h ồ sơ tặng cho Phạm Minh D , trong đó có vợ chồng Lê Thi ̣ T và Nguyễn Văn H. Hiê ̣n nay giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử dụng đất cấp cho Pha ̣m Minh D đa bi ̣̃ Toà án nh ân dân tinh Quả

̉ng Binh huỷ theo yêu cầu khở i

̀ kiê ̣n của ông T và làm thủ tục chia thừ a kế giao la ̣i toàn bô ̣ diê ̣n tich đấ t này cho ông

́ Phạm Minh T có quyền sử dụng. Quá trình sử dụng đất giữa ông T và các hộ liền kề đã xây dựng tường rào hoặc tường nhà cố đi ̣nh theo ranh giớ i đất từ lâu. Mă ̣t khác theo bà T thì ngôi nhà nhận chuyển nhượng từ ông L , bà M đến nay có thời gian sử dụng gần 100 năm, không có thay đổi gi so vớ i hiê ̣n tra ̣ng ban đầu.

̀

Kết quả hoà giải ta ̣i Uỷ ban nhân dân xa Đữ ́ c Tra ̣ch : Theo ý kiến của cán bô ̣ đi ̣a chinh xã Đức Trạch thì ông T không lấn đất của bà T và ông H , riêng phần

́ xây dựng trên không (tầng 2) thì ông T có lấn sang phần đất của bà T và ông H, đề nghị xem xét thoả đáng.

Kết quả xem xét, thẩm đi ̣nh ta ̣i chổ có kết quả:

+ Thử a đất của bà Lê Thi ̣ T và ông Nguyễn Văn H tại thôn T, xã Đ, huyê ̣n B, tỉnh Quảng Bình có diện tích 104,5m2 (có các kích thước như đa nêu trên).̃

+ Thử a đất ông Pha ̣m Minh T tại thôn T, xã Đ, huyê ̣n B, tỉnh Quảng Bình có diê ̣n tich 129,2m2 (có các kích thước như đã nêu trên).

́

+ Khoảng hở tính từ mép tường nhà (mă ̣t trướ c) nhà bà T, ông H sang mép ngoài hàng rào nhà ông T là 16cm (hướ ng Đông); Từ khoảng hở này kéo do ̣c ra ra sau 03m thi khoảng cá ch giữa tườ ng nh à ông T và tường nhà bà T , ông H là 25cm;

̀ Khoảng hở sau cùng (thứ 3) giữa tườ ng nhà ông T và tường nhà bà T , ông H là 13cm.

+ Phần xây dựng (dùng làm máng nướ c) tầng hai nhà ông T tính từ mép tườ ng nhà ông T có kích thước dài 6,15m, rô ̣ng 15cm.

+ Móng nhà ông T giáp nhà bà T (tính từ tường nhà ông T đến mép ngoài móng nhà) có kích thước dài 6,15m, rô ̣ng 07cm.

Như vâ ̣y quá trình Toà án nhân dân huyện Bố Trạch tiến hành xem xét, thẩm đi ̣nh ta ̣i chổ thi diện tích đất của bà T, ông H là 104,5m2, tườ ng rào được xây thẳng

̀ theo ranh giớ i đất...đúng như Bản án số 16/2019/DS – PT ngày 18/3/2019 của Toà án nhân dân dân cấp cao ta ̣i Đà Nẵng đa quyết đi ̣̃

nh trong vu ̣ kiê ̣n của bà T , ông H vớ i ông T.

Mă ̣t khác giữa nhà bà T, ông H và ông T có khoảng hở như đã nêu trên và hiện trạng ngôi nhà của bà T , ông H vẫn đang giữ nguyên so vớ i thờ i điểm nhâ ̣n chuyển nhượng nên không thể nói ông T khi xây dựng nhà đa đâ ̣̃ p p há ô văng che cử a sổ (tiếng đi ̣a phương là mày che cửa sổ) của bà T, ông H được. Hơn nữa phia bà T cũng

́ chỉ nại ra như vậy nhưng không có chứng cứ chứng minh , nên không có căn cứ để buô ̣c ông T phải bồi thường thiệt ha ̣i như bà T yêu cầu.

Đối với phần xây dựng trên không (tầng hai) nhà ông T thì ông T đa thữ ̀ a nhâ ̣n khi xây dựng có lấn phần trên không và đồng ý tháo dở khi có yêu cầu, như vâ ̣y theo kích thước xem xét, thẩm đi ̣nh nêu trên thi ông T đa xây dự̃

ng lấn sang đất bà T, ông

̀

H vớ i chiều dài 6,16m, rô ̣ng 08cm (đa trữ ̀ kich thướ c phần chân móng).

́

Quá trình làm việc với Toà án bà T đồng ý nếu ông T tháo dỡ hết phần xây dựng lấn sang trên không , còn phần đất nằm giữa khoảng trống hai nhà nói tại mục [2.10] thì bà đề nghị ông T cho bà sử du ̣ng toàn bô ̣ diê ̣n tich đất nà y. Trong

́ trườ ng hợp ông T thực hiê ̣n ngay viê ̣c này thi bà không có yêu cầu gi khác và sẻ rút

̀

̀ đơn khở i kiê ̣n . Tuy nhiên sau khi ông T đa thự̃

c hiê ̣n cắt x ong phần xây dựng trên không thi bà la ̣i thay đổi ý kiến , chứng tỏ quan điểm của bà T không rỏ ràng , lâ ̣p

̀ trườ ng luôn thay đổi, không có đô ̣ tin tưở ng.

Tại phiên toà các bên đương sự thừa nhận trong quá trình chuẩn bi ̣ giải quyết vu ̣ án ông Pha ̣m Minh T đa tự̃ nguyê ̣n tháo dở phần diê ̣n tich xây dựng ở tầng

́ hai kích thước dài 6,15m, rô ̣ng 15cm, trong khi đó phần xây dựng chỉ lấn sang chiều dài 6,15m, chiều rô ̣ng 08cm (đa trữ ̀ đi diê ̣n tich chân móng ). Như vâ ̣y theo đơn khở i

́

kiê ̣n của bà T có căn cứ chấp nhận mộ t phần theo yêu cầu , tuy nhiên phần xây dựng lấn sang chiều dài 6,15m, rộng 08cm đa đượ̃

c ông T tháo dở hết . Nhưng bà T vẫn tiếp tục có y êu cầu ông T phải tháo dỡ phần xây dựng lấn trên không dài 12,5m x rô ̣ng 0,55m = 6,9m2 là không có căn cứ chấp nhận . Vì theo kết quả xem xét , thẩm đi ̣nh ta ̣i chổ thi ngoài phần xây dựng lấn trên không nêu trên , các phần còn lại ông T

̀ không lấn chiếm đất của bà T, ông H.

Về yêu cầu huỷ giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất số AD 815698 ngày 28/02/2006, diện tích đất 107 m2 đa cẫ ́p cho bà T , ông H đa đượ̃

c Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình và Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng giải quyết

, nên Toà án nhân dân huyê ̣n Bố Tra ̣ch không xem xét.

Từ các nội dung nhâ ̣n đi ̣nh ở trên, Hô ̣i đồng xét xử thấy rằng: Không có căn cứ chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của bà Lê Thi ̣ T và ông Nguyễn Văn H về các nô ̣i dung:

- Buô ̣c ông Phạm Minh T phải trả lại diê ̣n tich đất lấn chiếm dài 12,5m x rô ̣ng

́ 0,55m = 6,9m2 .

- Buô ̣c tháo dở phần xây dựng trên không (tầng hai) vớ i diê ̣n tich dài 12,5m x

́ rô ̣ng 0,55m = 6,9m2.

- Buô ̣c bồi thườ ng ô văng che cử a sổ (tiếng đi ̣a phương là mày che cử a sổ).

- Không giải quyết yêu cầu huỷ giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất đa cấp chõ ông H, bà T (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 815698 ngày 28/02/2006, diện tích đất 107 m2).

Về án phi và chi phi tố tu ̣ng:

́

́

+ Về án phi : Ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị T khởi kiện không được Tòa án

́ chấp nhận, do đó ông H, bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không giá nga ̣ch.

+ Về chi phi tố tu ̣ng : Bà T tạm nộp chi phí tố tụng là 3.000.000đ (ba triê ̣u

́ đồng), nhưng chi phi xem xét, thẩm đi ̣nh ta ̣i chổ hết 1.500.000đ (mô ̣t triê ̣u, năm trăm

́ ngàn đồng) và kết quả xem xét, thẩm đi ̣nh ta ̣i chổ có căn cứ chấp nhâ ̣n mô ̣t phần yêu cầu khở i kiê ̣n của bà T , ông H, nên bà T, ông H phải chịu ½ (750.000đ) số tiền chi phí tố tụng và ông Phạm Minh T phải chịu ½ (750.000đ) chi phi tố tu ̣ng để hoàn trả

́ cho bà T, ông H.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 158, 174, 175, 176, 189, 190 và Điều 194 Bô ̣ luâ ̣t dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 52, 59, 95, 96, 97, 98, 99, 166, 170và Điều 203 Luật đất đai năm 2013; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm án phí, lệ phí Tòa án; xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn H về viê ̣c buô ̣c ông Phạm Minh T phải trả lại diê ̣n tich đất lấn chiếm có kích thước dài 12,5m x

́

rô ̣ng 0,55m = 6,9m2 (có sơ đồ kèm theo).

2. Không chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn H về viê ̣c buô ̣c ông Phạm Minh T tháo dở phần xây dựng tầng hai có kích thước dài 12,5m x rô ̣ng 0,55m = 6,9m2, vì phần xây dựng lấn sang đa đượ̃

c ông T tự nguyê ̣n tháo dỡ (có sơ đồ kèm theo).

3. Không chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị T và ông Nguyễn Văn H về viê ̣c buô ̣c ông Phạm Minh T phảibồi thườ ng ô văng che cử a sổ (tiếng đi ̣a phương là mày che cử a sổ).

4. Không giải quyết yêu cầu huỷ giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử d ụng đất đã cấp cho ông H, bà T (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 815698 ngày 28/02/2006, diện tích đất 107 m2).

3. Về án phí và chi phí tố tu ̣ng:

+ Về án phi : Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị T phải chịu

́ 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0002672 ngày 04/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

+ Về chi phi tố tu ̣ng : Bà T , ông H phải chịu ½ số tiền chi phí tố tụng là

́ 750.000đ, được trừ vào số tiền 3.000.000 đa nô ̣̃ p ta ̣m ứ ng và được nhâ ̣n la ̣i 2.250.000đ (trong đó Toà án trả la ̣i 1.500.000đ và được nhận 750.000đ do ông T nô ̣p để hoàn trả); ông Pha ̣m Minh T phải chịu ½ chi phí tố tụng là 750.000đ để hoàn trả cho bà T, ông H.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho đương sự có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/11/2019). Báo cho đương sự vắng mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ