vanban.org

Bản án 13/2019/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị Ngọc H – Chủ hộ kinh doanh K.

Buộc bà Nguyễn Thị P và anh Lê Thanh Ph có nghĩa vụ liên đới trả cho chị Phan Thị Ngọc H – Chủ hộ kinh doanh K số tiền mua phân thuốc còn thiếu là 132.220.000 (một trăm ba mươi hai triệu hai trăm hai mươi nghìn) đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "chị H tranh chấp hợp đồng mua bán với ông Ph và bà P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị Ngọc H – Chủ hộ kinh doanh K.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH HƯNG
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2019/DS-ST
Ngày: 04-6-2019
V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Huỳnh Thị Yến Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lâm Hồng Hải

Ông Bùi Đức Hảo

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Thúy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.

Trong các ngày 24 tháng 5 và 04 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 117/2018/TLST-DS ngày 10 tháng 12 năm 2018 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2019/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Phan Thị Ngọc H, sinh năm 1990 – Chủ hộ kinh doanh K. Hộ khẩu trường trú: Ấp N, xã Nh, huyện T, tỉnh Long An; Địa điểm kinh doanh: Ấp R, xã T, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.

-Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Võ Thành Ch, sinh năm 1956. Địa chỉ: Ấp Nn, xã Nh, huyện T, tỉnh Long An (theo văn bản ủy quyền được chứng thực ngày 03/12/2018). Có mặt.

-Bị đơn: Anh Lê Thanh Ph, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1945. Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An. Anh Ph và bà P đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 12 năm 2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Võ Thành Ch trình bày:

Năm 2017, bà P và con bà là anh Ph có mua phân thuốc của đại lý K do chị Phan Thị Ngọc H là con dâu của ông Ch làm chủ hộ kinh doanh và còn nợ lại tổng số tiền 132.220.000 đồng, hẹn đến ngày 14/8/2018 sẽ trả số tiền trên. Anh Ph có ký giấy nhận nợ còn bà P cam kết sẽ trả nợ thay cho anh Ph nếu đến hạn mà anh Ph không trả. Trên thực tế thì ông Ch là người quản lý mọi hoạt động kinh doanh của đại lý K. Nay đã quá hạn thanh toán nợ nhưng anh Ph và bà P vẫn chưa thanh toán số tiền còn nợ cho đại lý K nên ông Ch đại diện cho nguyên đơn yêu cầu bà P và anh Ph phải có trách nhiệm liên đới trả cho đại lý K do bà Phan Thị Ngọc H làm chủ hộ kinh doanh số tiền 132.220.000 đồng còn nợ, tiền lãi không yêu cầu.

Tại phiên tòa, ông Ch vẫu giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như trên.

Theo tài liệu có trong hồ sơ, bị đơn bà Nguyễn Thị P thể hiện ý kiến: Bà và con bà là Lê Thanh Ph có mua phân thuốc bảo vệ thực vật của đại lý K do ông Ch làm chủ để sản xuất lúa vụ hè thu năm 2018 và còn nợ lại số tiền 132.220.000 đồng. Do mùa vụ bị thất nên không có tiền trả. Nay ông Ch đại diện cho chủ hộ kinh doanh do bà Phan Thị Ngọc H làm chủ hộ kinh doanh khởi kiện yêu cầu bà và con bà liên đới trả 132.220.000 đồng còn nợ thì bà P đồng ý trả số nợ trên nhưng xin cho bà trả dần theo mùa vụ, đến thu họach vụ đông xuân 2019 sẽ trả đủ.

Anh Lê Thanh Ph vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, không thể hiện ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Trên cơ sở đơn khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp về “Hợp đồng mua bán tài sản” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn bà Nguyễn Thị P và anh Lê Thanh Ph có nơi cư trú tại ấp B, xã T, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục ủy quyền: Chị Phan Thị Ngọc H ủy quyền cho ông Võ Thành Ch tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, thủ tục ủy quyền đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận;

Về căn cứ xét xử vắng mặt bị đơn: Tòa án đã tống đạt các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn bà Nguyễn Thị P và anh Lê Thanh Ph vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên căn cứ quy định tại Điều 227 và điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về thời hiệu khởi kiện của vụ án: Do không có đương sự nào đề nghị áp dụng thời hiệu, căn cứ quy định tại Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không xem xét về thời hiệu đối với vụ kiện này.

Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu của nguyên đơn, thấy rằng: Đại diện nguyên đơn là ông Võ Thành Ch khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị P và con là anh Lê Thanh Ph có trách nhiệm liên đới trả cho chị Phan Thị Ngọc H – Chủ hộ kinh doanh K tổng số tiền mua phân thuốc còn nợ là 132.220.000 đồng và cung cấp chứng cứ chứng minh là “Giấy nhận nợ” do anh Ph ký tên xác nhận có nội dung anh Ph thừa nhận có nợ tiền phân bón, thuốc bảo vệ thực vật của chị Phan Thị Ngọc H và ông Võ Thành Ch số tiền 132.220.000 đồng và hẹn đến ngày 14/8/2018 sẽ trả hết số nợ trên, nhưng đến nay vẫn chưa trả. Bà P cũng thể hiện ý kiến thống nhất số nợ và đồng ý trả số nợ theo yêu cầu của nguyên đơn nên đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Lê Thanh Ph và bà Nguyễn Thị P vắng mặt không tham gia hòa giải và không tham gia phiên Tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ do nguyên đơn cung cấp làm cơ sở để giải quyết vụ án.

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chứng cứ nguyên đơn cung cấp là phù hợp nên việc khởi kiện là có căn cứ để chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên phía bị đơn là bà Nguyễn Thị P và anh Lê Thanh Ph phải liên đới chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án (132.220.000 đồng x 5% = 6.611.000 đồng); Chị Phan Thị Ngọc H được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 184, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 288, Điều 357, Điều 430, Điều 440 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị Ngọc H – Chủ hộ kinh doanh K.

Buộc bà Nguyễn Thị P và anh Lê Thanh Ph có nghĩa vụ liên đới trả cho chị Phan Thị Ngọc H – Chủ hộ kinh doanh K số tiền mua phân thuốc còn thiếu là 132.220.000 (một trăm ba mươi hai triệu hai trăm hai mươi nghìn) đồng.

2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về án phí:

3.1. Buộc bà Nguyễn Thị P và anh Lê Thanh Ph liên đới nộp 6.611.000 (sáu triệu sáu trăm mười một nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

3.2. Hoàn trả lại cho chị Phan Thị Ngọc H 3.305.500 (ba triệu ba trăm lẻ năm nghìn năm trăm) đồng tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng theo biên lai số 0004997 ngày 10/12/2018.

Báo cho đương sự có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiện tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ