- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Xuân Tú phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊNTHÀNH TỈNH NGHỆ AN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:13/2018/HSST Ngày 28 - 3- 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Trọng Thế
Ông Phạm Xuân Thanh
- Thư ký phiên toà: Ông Đào Quang Sáng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa: ông Phan Lê Tời - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2018/HSST, ngày 16 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:14/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Xuân T - sinh ngày 20 tháng 4 năm 1990 tại thị trấn Y, huyện Y T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm 2, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân H (chết) và bà Nguyễn Thị S;vợ Nguyễn Thị C (đã ly hôn) và 1 con; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ từ ngày 04/01/2018 đến ngày 10/01/2018 cho tại ngoại, có mặt.
- Người bị hại: anh Nguyễn Quế T, sinh năm 1989; Nơi đăng ký HKTT: xóm 6, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Tạm trú: xóm 2, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Nghệ An (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 03/01/2018 Nguyễn Xuân T đi bộ từ nhà mình đến quán vui chơi giải trí Đô Rê Mi của anh Nguyễn Quế T ở xóm 2, thị trấn Y quan sát không thấy ai trông giữ quán nên đã trèo lên cổng, trèo lên lan can tầng 2 mở cửa đi vào trong nhà rồi theo lối cầu thang xuống tầng 1.Tú quan sát tại quầy bán hàng có 1 chiếc thùng tôn đựng tiền nên đã cạy nắp và lấy được 400.000 đồng. Tú tiếp tục đi vào phòng ngủ thì nhìn thấy chiếc két sắt trong phòng nên đã dùng 2 thanh kim loại có sẵn trong phòng để cạy phá két sắt, khi cánh cửa bung ra thì T thấy có tiền mặt trong đó và đã lấy được số tiền là 17.210.000 đồng. Sau khi lấy được tiền T đem về nhà cất dấu. Đến ngày 04/01/2018 Tú nghĩ rằng hành vi của mình trước sau cũng sẽ bị phát hiện nên đã đến Công an thị trấn xin đầu thú và giao nộp lại toàn bộ số tiền chiếm đoạt để giao trả lại cho người bị hại.
Tại bản cáo trạng số 19/VKS-HS ngày 15/3/2018 của VKSND huyện Yên Thành đã truy tố Nguyễn Xuân T về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 điều 173 BLHS năm 2015.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật xử phạt bị cáo từ 12 -15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thử thách 24 -30 tháng.
- Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung.
- Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị trộm cắp đã được trả lại cho bị hại không yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
- Về vật chứng: Kiểm sát viên đề nghị tịch thu tiêu hủy theo quy định.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí toà án. Bị cáo không có tranh luận gì.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Xuân T xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Thành, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, Kiểm sát viên; Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, Thẩm phán thì trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ buộc tội:Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Xuân T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Bị cáo đã có hành vi trộm cắp tài sản của gia đình anh Nguyễn Quế T với số tiền là 17.610.000 đồng nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 BLHS là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm vào tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang, lo lắng cho người dân. Vì thế, cần phải xử lý nghiêm bằng biện pháp hình sự để giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ là quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự nguyện bồi thường lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt của anh T. Mặt khác, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú tại cơ quan có thẩm quyền; người bị hại đề nghị cơ quan pháp luật chiếu cố khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, vì thế không nhất thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà tiếp tục giao cho gia đình và chính quyền địa phương quản lý giám sát cũng là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra phải áp dụng khoản 5 điều 173 BLHS phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo, nhưng xét bị cáo không có nghề nghiệp hay thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế gia đình hết sức khó khăn, nghĩ nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về dân sự:Người bị hại đã nhận lại tài sản đầy đủ, không có yêu cầu gì nữa nên miễn xét.
Về xử lý vật chứng: 02 thanh sắt hình vuông đường kính 1,5 cm mà bị cáo dùng để nạy cửa két sắt, xét thấy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Xuân Tú phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ: Khoản 1 điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS, khoản 1, 2 điều 65 BLHS.
1. Xử phạt: Nguyễn Xuân T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Xuân T cho UBND thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong tr êng hîp ng êi ® îc h ëng ¸n treo thay ®æi n¬i c tró th× thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i kho¶n 1 ®iÒu 69 LuËt thi hµnh ¸n h×nh sù.
2. Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a, c khoản 2 điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy: 02 thanh sắt hình vuông đường kính 1,5 cm, dài 60 cm màu trắng; 01 thanh sắt hình vuông đường kính 1,5 cm, dài 110 cm, một đầu có gắn thanh sắt hình chữ nhật.
(Vật chứng đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành quản lý theo phiếu nhập kho số NK 25 ngày 16/3/2018).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc Nguyễn Xuân T phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Công an H.Yên Thành - VKSND H. Yên Thành; - VKSND tỉnh Nghệ An - THADS Yên Thành; - THA hình sự; - Bị cáo; - TAND tỉnh Nghệ An; - Sở tư pháp - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( đã ký) Lê Thị Nhung |