vanban.org

Bản án 13/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 27/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn A phạm tội "Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 điều 51; khoản 1, khoản 2 điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo Phan Văn A: 07 (Bảy) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 14 (Mƣời bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phan Văn A cho UBND xã P, huyện L, tỉnh H và gia đình quản …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án Phan Văn A phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn A phạm tội "Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC HÀ
TỈNH HÀ TĨNH
Bản án số: 13/2018/HSST

Ngày: 27/4/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC HÀ - HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Lâm

Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Nữ Ngọc Oanh; Ông Nguyễn Khắc Diện.

- Thƣ ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Thủy.

- Đại diện VKSND huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Xuân Định - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2018 tại hội trƣờng xét xử, Tòa án nhân dân huyện Lộc Hà đƣa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2018/TLST-HS ngày 02/4/2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 11/2018/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:

Phan Văn A - Tên gọi khác: Không

Sinh ngày: 12/11/1990 tại xã P, huyện L, tỉnh H.

Nơi cƣ trú: Thôn Đ, xã P, huyện L, tỉnh H.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 5/12

Con ông: Phan Văn H1 - Sinh năm 1964 và bà: Nguyễn Thị T - Sinh năm 1966.

Vợ: Phan Thị H2 - Sinh 1997, bị cáo chƣa có con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cƣ trú.

Ngƣời bị hại: Anh Hoàng Lƣu Nhƣ Y - Sinh ngày 01/01/2000

Trú tại: Thôn X, xã T1, huyện L, tỉnh H

Nghề nghiệp: Học sinh; (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Sáng ngày 06/01/2018, Phan Văn A trú quán tại thôn Đ, xã P, huyện L xuống nhà bà L1 ở thôn X, xã T1, huyện L để chở bộ cửa gỗ mua của bà L1. Đến khoảng 8 giờ 30 phút, Phan Văn A sang nhà ông Hà Huy V là hàng xóm bà L1. Ngồi nói chuyện với A một lúc thì ông V đi gội đầu, trong khi đó A đi vào trong nhà và nhìn thấy có hai chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo R7Sf và Iphone 5S của em Hoàng Lƣu Nhƣ Y cháu ông V để trên bàn sát giƣờng ngủ. Quan sát thấy không có ai nên A lấy hai chiếc điện thoại và bỏ vào túi áo. Khi A đi ra khỏi nhà thì gặp vợ ông V đi chợ về nên A ngồi nói chuyện với bà một lúc rồi ra về.

Đến 16 giờ cùng ngày, Phan Văn A gặp em trai là Phan Văn S, sinh năm 1993 tại nhà của mình. A lấy chiếc điện thoại Oppo R7Sf đƣa cho S và nói: “anh lấy đƣợc cái máy ở dƣới nhà hàng xóm bà L1, em lấy mà dùng”. S nghe A nói vậy biết điện thoại là do A lấy trộm nhƣng vẫn cầm về sử dụng. Còn chiếc điện thoại Iphone 5S Phan Văn A đƣa cho em trai là Phan Văn H3, sinh năm 2005 và nói: “ anh lấy đƣợc cái máy điện thoại cho em đƣa về dùng”. Nghĩ điện thoại do A nhặt đƣợc nên H3 cầm máy sử dụng. Do chiếc điện thoại di động Iphone 5S cài mật khẩu không mở đƣợc nên sáng ngày 07/01/2018, H3 đƣa điện thoại ra cửa hàng kinh doanh điện thoại M ở xã P để nhờ mở mật khẩu. Đến 16 giờ 30 phút ngày 07/01/2018, H3 gặp S và kể lại việc A nhặt đƣợc điện thọai rồi cho H3 nhƣng điện thoại bị khóa mật khẩu nên đang đi mở khóa. Vì đang cần tiền sửa máy cƣa bị hỏng nên S cùng H3 lấy điện thoại Iphone 5S ở cửa hàng kinh doanh điện thoại M rồi đƣa đến của hàng điện thoại H4 ở xã P, huyện L bán cho anh Phạm Ngọc H5, trú quán xã T2, huyện L đƣợc 150.000 đồng. Số tiền 150.000 đồng không đủ để sửa máy cƣa nên S đã cầm tiền về đƣa lại cho A.

* Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 máy điện thoại di động Iphone 5S, màu trắng - vàng đồng, vỏ máy có in mã IMEI 352024060692120, máy đã qua sử dụng;

- 01 điện thoại di động nhãn nhiệu Oppo R7Sf, màu trắng - vàng đồng, Ram 4GB, Rom 32G, màn hình nứt vỡ, máy đã qua sử dụng;

- Tiền ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam 150.000 đồng do Phan Văn A giao nộp lại cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Lộc Hà.

* Tại biên bản định giá tài sản số 12/2017/BB-ĐGTS ngày 14/11/2017 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Lộc Hà kết luận:

- 01 máy điện thoại di động Iphone 5S, màu trắng - vàng đồng, máy đã qua sử dụng có giá trị 1.200.000 đồng;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO R7Sf, màu trắng vàng đồng, Ram 4GB, Rom 32G, màn hình nứt vỡ, máy đã qua sử dụng có giá trị 1.000.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản trên là 2.200.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, xét thấy không ảnh hƣởng đến việc giải quyết vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ngƣời bị hại là anh Hoàng Lƣu Nhƣ Y 02 chiếc máy điện thoại trên và số tiền 150.000đ.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phan Văn A khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai ngƣời bị hại, lời khai những ngƣời làm chứng và các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Hà thu thập trong quá trình điều tra vụ án.

Bản cáo trạng số 10/Ctr-KSĐT ngày 30/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Phan Văn A về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Hành vi của bị cáo Phan Văn A có đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Phan Văn A về tội Trộm cắp tài sản và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 điều 51; điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo Phan Văn A từ 6 (Sáu) đến 9 (Chín) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã P, huyện L, tỉnh H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Lời nói sau cùng của bị cáo Phan Văn A: Bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của các bị cáo Phan Văn A trƣớc phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của ngƣời bị hại, lời khai ngƣời làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh thu thập trong quá trình khởi tố, điều tra vụ án. Do đó HĐXX đã có đủ chứng cứ để kết luận:

Vào khoảng 8 giờ 30 phút ngày 06/01/2018, tại nhà ông Hà Huy V ở thôn X, xã T1, huyện L. Lợi dụng lúc ông V không để ý, Phan Văn A đi vào nhà trong lén lút lấy trộm hai chiếc điện thoại di động nhãn hiêu Oppo R7Sf và Iphone 5S để trên bàn học của anh Y có giá trị 2.200.000đ. Sau khi lấy trộm đƣợc, A cho em trai là Phan Văn S chiếc điện thoại Oppo R7Sf và cho em trai Phan Văn H3 chiếc điện thoại Iphone 5S để sử dụng. Do không mở đƣợc mật khẩu nên H3 đã bán chiếc điện thoại đó với giá 150.000đ và đƣa tiền về cho A.

Hành vi của bị cáo Phan Văn A đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại khoản 1 điều 173 BLHS.

Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng...thì bị phạt cải tạo không giam gữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Xét tính chất vụ án, HĐXX xét thấy đây là vụ án “Trộm cắp tài sản” gây hậu quả ít nghiêm trọng. Tuy nhiên vụ án xảy ra trong bối cảnh tình hình tội phạm có chiều hƣớng gia tăng, gây dƣ luận không tốt trong quần chúng nhân dân, ảnh hƣởng đến an ninh trật tự tại địa phƣơng. Do đó cần phải áp dụng khoản 1 điều 173 BLHS xử phạt bị cáo mức hình phạt đủ nghiêm, tƣơng xứng với hành vi phạm tội để bị cáo rèn luyện bản thân trở thành công dân lƣơng thiện đồng thời có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì bị cáo Phan Văn A thực hiện hành vi phạm tội không thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì bị cáo Phan Văn A đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ TNHS: “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “Thành khẩn khai báo” đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 điều 51 BLHS.

Xét về nhân thân thì bị cáo Phan Văn A có nhân thân tốt, trƣớc khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự.

Sau khi xem xét, đánh giá tính chất vụ án và hậu quả của tội phạm, động cơ, mục đích phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, HĐXX xét thấy chƣa cần thiết phải cách ly bị cáo Phan Văn A ra khỏi xã hội mà áp dụng khoản 1, khoản 2 điều 65 BLHS cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo cũng đủ điều kiện để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Ngƣời bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất trộm, hiện nay không có yêu cầu bồi thƣờng gì thêm, do đó HĐXX miễn xét.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Hà đã giải quyết đúng thẩm quyền, do đó HĐXX miễn xét.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn A phạm tội "Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 điều 51; khoản 1, khoản 2 điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo Phan Văn A: 07 (Bảy) tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 14 (Mƣời bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phan Văn A cho UBND xã P, huyện L, tỉnh H và gia đình quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 135; khoản 2 điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH và danh mục mức án phí, lệ phí toà án ban hành kèm theo, xử buộc: Bị cáo Phan Văn A phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) án phí HSST.

Bị cáo và ngƣời bị hại đƣợc quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh để xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. NƠI NHẬN:

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND Cấp cao;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Phòng Nghiệp vụ TAND tỉnh;

- Công an huyện Lộc Hà (2 bản);

- VKSND huyện Lộc Hà (2 bản);

- Sở Tƣ pháp tỉnh Hà Tĩnh;

- UBND xã P;

- Chi cục THA dân sự huyện Lộc Hà;

- THA hình sự;

- Bị cáo; ngƣời bị hại;

Phan Văn Lâm

- Lƣu văn phòng.

Cỡ chữ