- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Văn S phạm tội “Tàng trữ hàng cấm".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:13/2018/HS-ST Ngày: 04/6/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Hải;
Ông Trần Văn Dũng.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Đinh Công Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2018/TLST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2018, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2018/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:
Đặng Văn S, tên gọi khác: không; sinh ngày: 19 tháng 9 năm 1982, tại huyện L, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xã Đ, huyện L, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tư do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đặng Văn H2, sinh năm: 1957; Con bà: Thái Thị H3, sinh năm: 1954; Vợ: Hoàng Thị Q, sinh năm: 1982; Con: Có 02 con: Lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện tại ngoại. Có mặt.
- Người làm chứng:
1, Anh Nguyễn Quang T; sinh năm: 1985;
Nơi cư trú: Xã H, huyện L, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
2, Anh Đặng Văn H; sinh năm: 1972;
Nơi cư trú: Xã Đ, huyện L, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
3. Anh Nguyễn Trọng T1; sinh năm: 1968;
Nơi cư trú: Xã Đ, huyện L, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sau khi mua xong 20 con trâu, bò tại tỉnh Quảng Bình, ngày 08/01/2018 Đặng Văn S điều khiển xe ô tô BKS: 37C – 006.89 do S thuê của anh Nguyễn Trọng T1 (trú tại xã Đ, huyện L) để chở số trâu bò trên xuất phát từ huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình đi theo Quốc lộ 1A hướng TP Hồ Chí Minh đi Hà Nội để ra địa bàn tỉnh Nghệ An. Đi cùng trên xe lúc này gồm có: anh Nguyễn Quang T, Đặng Bá Đồng, Đặng Văn H cùng trú tại: huyện L, tỉnh Nghệ An. Khi cách Trạm thu phí Quán Hàu (thuộc huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình) 50 mét, S dừng xe bên đường để mọi người trên xe xuống kiểm tra trâu, bò phía S thùng xe. Còn S xuống xe đi bộ về phía trước xe. Đi được khoảng 15m, S gặp người lái xe ôm đứng ở bên đường. S hỏi người này: "Có chỗ mô bán pháo không?" Người này nói: "đây có bán, mua loại chi?". S nói: "Mua loại bánh 36 quả". S khi xem pháo và thống nhất giá. S đã mua 03 hộp pháo (loại dàn 36 quả mỗi hộp) với giá 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) và 10 quả pháo rời hình trụ tròn giá 400.000 đ (bốn trăm nghìn đồng), Cộng: 1.900.000 đồng (Một triệu chín trăm nghìn đồng). Mua xong S bỏ số pháo trên vào bì xác rắn và đem cất dấu tại phía trong bên phải Cabin. S cất xong pháo thì mọi người cũng đã kiểm tra xong trâu bò và lên xe. S tiếp tục điều khiển xe đi đến đoạn cầu Danh thuộc huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình thì có anh Đặng Văn Phong (trú tại: thôn 2, xã Phúc Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình) là bạn của anh H lên xe xin đi nhờ. Khi xe đi đến thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh thì anh Nguyễn Quang T thay S tiếp tục điều khiển xe. Khi xe chạy đến đường tránh thành phố Vinh thuộc xóm 9, xã Hưng Lợi, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An (Lúc này khoảng 03 giờ 50 ngày 09/01/2018) thì xe bị tổ công tác thuộc phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Nghệ An dừng xe kiểm tra hành chính và phát hiện số pháo do S đã mua cất dấu ở trên xe.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và niêm phong lại hồi 16
giờ 30 phút ngày 10/01/2018 xác định: Tổng khối lượng của 03 khối hộp chữ nhật và 10 khối hình trụ tròn là 6,53 kg.
Tại bản kết luận số 111/KL-PC54(CN) ngày 16/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: 02 mẫu vật (ký hiệu M1, M2) thu giữ của Đặng Văn S gửi tới giám định là pháo, đều có đầy đủ các đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).
Vật chứng thu giữ gồm:
- 03 hộp pháo (loại dàn 36 quả mỗi hộp).
- 10 quả pháo rời hình trụ tròn.
Tại phiên tòa bị cáo Đặng Văn S đã khai nhận hành vi mà bị cáo thực hiện vào tối ngày 08/01/2018 và sáng ngày 09/01/2018 như đã nêu trên và thừa nhận: Do muốn có pháo đốt trong dịp tết nguyên đán nên tối ngày 08/01/2018 bị cáo đã mua của người đàn ông lái xe ôm 03 hộp pháo (loại dàn 36 quả/1 hộp) và 10 quả pháo rời hình trụ tròn có tổng khối lượng là 6,53 kg với tổng số tiền là 1.900.000đ rồi cất dấu pháo phía trong bên phải ca bin xe. Trên đường chở pháo về nhà cất dấu thì bị tổ công tác Công an tỉnh Nghệ An phát hiện quả tang, lập biên bản và thu giữ vật chứng.
Cáo trạng số 14/CT – VKS - HN ngày 26/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Đặng Văn S về tội: “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Đặng Văn S từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách từ 12 đến 18 tháng. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung (hình phạt tiền) cho bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 02 hộp pháo (loại dàn 36 quả/1 hộp) và 07 quả pháo rời hình trụ tròn.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như S:
. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
. Về chứng cứ xác định tội danh:
Hội đồng xét xử xét thấy: Lời khai tại phiên tòa và lời khai trong quá trình điều tra của bị cáo là thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, Biên bản sự việc lập hồi 03 giờ 50 phút ngày 09/01/2017, và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được công bố và thẩm tra tại phiên tòa.
Có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 03 giờ 50 phút ngày 09/01/2018 tại đoạn đường tránh Vinh thuộc xóm 9, xã Hưng Lợi, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, bị cáo Đặng Văn S đã có hành vi tàng trữ 03 hộp pháo (loại dàn 36 quả/1 hộp) và 10 quả pháo rời hình trụ tròn có tổng khối lượng là 6,53 kg trong xe ô tô nhằm mục đích để đốt trong dịp tết nguyên đán.
Căn cứ vào bản kết luận giám định số 111/KL-PC54(CN) ngày 16/01/2018 của phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Nghệ An, kết luận: Các mẫu vật thu giữ của Đặng Văn S gửi tới giám định đều là pháo, có đầy đủ các đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).
Theo quy định của Luật số 03/2016/QH 14 (Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và phụ lúc 4 về danh mục nghành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thì: Pháo nổ là ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh. Nên hành vi tàng trữ 6,53 kg pháo nổ của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015.
. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Đây là vụ án xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý,
sản xuất kinh doanh một số loại hàng cấm. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ pháo là loại hàng hóa mà nhà nước cấm sản xuất, tàng trữ và lưu thông trên thị trường, nhưng bị cáo đã có hành vi tàng trữ 03 hộp pháo (loại dàn 36 quả/1 hộp) và 10 quả pháo rời hình trụ tròn có tổng khối lượng là 6,53 kg nhằm mục đích phục vụ cho việc đốt pháo trong dịp tết nguyên đán. Hành vi này là nguy hiểm cho xã hội nên cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cần xem xét cho bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bố của bị cáo được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và bị cáo sẽ được áp dụng những tình tiết giảm nhẹ này khi Tòa án quyết định hình phạt.
Xét thấy, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, không có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng nên chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện giáo dục và cải tạo bị cáo. Mức án mà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên đề nghị là phù hợp và nghiêm minh nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, đang sống chung với bố mẹ nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (Hình phạt tiền) đối với bị cáo.
. Về vật chứng:
Vật chứng vụ án là 01 bì xác rắn loại bao tải thức ăn gia súc có dòng chữ VINAVM 1040 đã buộc chặt miệng bao tải dán giấy niêm phong có chữ ký của đối tượng Đặng Văn S và các thành viên hội đồng tham gia. Bên trong bì xác rắn là 02 hộp pháo (loại 36 quả/ 1 hộp) và 07 quả pháo cối đều do nước ngoài sản xuất. Đây là vật chứng bị Nhà nước cấm tàng trữ trái phép nên cần cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình Sự.
. Đối với người bán pháo cho Đặng Văn S, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với anh Nguyễn Trọng T1 là người cho S thuê xe ô tô BKS: 37C-006.89, S đó S dùng phương tiện này để vận chuyển pháo. Tuy nhiên, anh T1 không biết hành vi mua pháo của S. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý anh T1 là đúng quy định của pháp luật
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quối hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Đặng Văn S phạm tội “Tàng trữ hàng cấm".
Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn S 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng. Thời gian thử thách của bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo S cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án Hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bì xác rắn loại bao tải thức ăn gia súc có dòng chữ VINAVM 1040 đã buộc chặt miệng bao tải dán giấy niêm phong có chữ ký của đối tượng Đặng Văn S và các thành viên hội đồng tham gia. Bên trong bì là 02 hộp pháo (loại 36 quả) và 07 quả pháo rời đều do nước ngoài sản xuất.
(Toàn bộ số vật chứng trên hiện đang tạm gửi tại kho vật chứng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quối hội buộc bị cáo Đặng Văn S phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Hưng Nguyên; - VKS nhân dân tỉnh Nghệ An; - Công an huyện Hưng Nguyên; - Chi cục THADS huyện Hưng Nguyên; - Bị cáo; - TAND tỉnh NA; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Thanh |