- Tranh chấp gì? án hình sự — "CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH - NGUYỄN HOÀNG VƯƠNG - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổ…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ - TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2018/HSST Ngày: 22/11/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH GIA LAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Vi Tình và Trần Xuân Tỉnh.
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Quang Ân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ,
tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa:
Bà Mạc Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2018, tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia
Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2018/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2018/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2018, đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng V, sinh ngày: 04/6/1986, tại huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Nơi cư trú:
Thôn T, xã T, huyện Đ, Gia Lai; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1968; có vợ Lê Thị Mỹ D, sinh năm: 1987 và có 02 người con chung; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt. Bị cáo tại ngoại hiện có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Thái Văn C, Sinh năm: 1960; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Đ, Gia
Lai. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị B, sinh năm: 1969; nơi
cư trú: Thôn T, xã Tân An, huyện Đ, Gia Lai. Có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
Lê Thị Mỹ D, sinh năm: 1987; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Đ, Gia Lai. Có
mặt tại phiên tòa.
Võ Thị Lệ T, sinh năm: 1971; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Đ, Gia Lai. Vắng
mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 21/5/2018, ông Thái Văn C phát hiện hàng
rào giáp ranh giữa đất nhà ông và Nguyễn Hoàng V đã bị gỡ và thay bằng hàng rào lưới B40 nên giữa ông C và V đã xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Sau đó ông C đã chạy vào nhà lấy một chiếc kìm để ra gỡ lưới B40 thì V nhổ chanh mà ông C đã trồng trước đó, thấy vậy ông C đã dùng chiếc kìm đang cầm trên tay chọc thẳng vào mặt làm V bị thương nên V đã lùi lại khoảng 03 mét và nhặt lấy cây rựa mà trước đó dùng để dọn cây làm hàng rào, V dùng cán rựa đánh vào vùng đầu và trán của ông C hai cái gây thương tích dẫn đến việc ông C phải đi cấp cứu điều trị tại Trung tâm y tế huyện Đ, Gia Lai.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 152/2018/PY-TgT ngày
26/7/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định kết luận thương tích của Thái Văn C: Vết thương vùng đỉnh trán đã điều trị. Hiện vùng đỉnh trán vết thương để sẹo kích thước (5x0,5)cm. Điện não đồ biến đổi mức độ nhẹ; Vết thương vùng trán trái đã điều trị. Hiện vùng trán trái (sát chân tóc) vết thương để sẹo kích thước (3x0,5)cm; Chấn thương gây sướt da mu tay trái đã điều trị. Hiện mu tay trái để sẹo kích thước (0,8x0,8)cm. Tổng tỷ lệ tổn hại sức khỏe do thương tích gây nên hiện tại là 11%.
Tại bản cáo trạng số: 15/CT-VKS ngày 07/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Đ, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng V về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quan
điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng V phạm tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị áp dụng điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Khoản 1, Khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Áp dụng Điều 106; Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng V từ 09 đến 15 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Xử tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án và buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi phạm tội “ Cố ý gây thương tích” của bị cáo xảy ra tại địa bàn
huyện Đ, tỉnh Gia Lai nên về thẩm quyền khởi tố điều tra, truy tố và xét xử thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Đ, tỉnh Gia Lai là đúng thẩm quyền. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử Điều tra Viên, Kiểm sát viên và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Xét hành vi của bị cáo thì vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 21/5/2018, giữa
bị cáo và ông C phát sinh tranh chấp hàng rào giáp ranh đất giữa hai gia đình nên đã xảy ra mâu thuẫn sau đó đánh nhau. Ông C đã dùng chiếc kìm đang cầm trên tay chọc thẳng vào mặt bị cáo làm bị thương, sau đó bị cáo dùng cán rựa đánh vào vùng đầu và trán của ông C nên ông C có đưa tay lên đỡ, dẫn đến việc gây thương tích vùng đầu và mu bàn tay trái. Qua lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo V tại phiên tòa, phù hợp với mọi tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 152/2018/PY-TgT ngày
26/7/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định kết luận thương tích của Thái Văn C: Tổng tỷ lệ tổn hại sức khỏe do thương tích gây nên hiện tại là 11%. Mặc dù bị cáo gây thương tích tổn hại sức khỏe cho người bị hại 11% nhưng trong quá trình thực hiện hành vi bị cáo đã dùng cây rựa là vật cứng chắc đánh vào vùng đầu của bị hại được xác định là hung khí nguy hiểm, đây là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt cần áp dụng đối với bị cáo. Từ những nhận định trên kết luận bị cáo Nguyễn Hoàng V phạm tội “Cố ý gây thương tích” được quy định điểm đ Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự 2015.
[3] Xét tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả gây ra cho
xã hội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm
đến sức khỏe của ông C đồng thời ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Chỉ gì mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo đã dùng cán rựa đánh vào vùng đầu của ông C gây thương tích mà đáng lẽ ra bị cáo phải nhận thức được rằng sức khỏe của con người luôn được pháp luật bảo vệ, bị cáo có ý thức coi thường pháp luật và cố ý thực hiện hành vi phạm tội của mình. Do đó khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc để giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội là điều cần thiết.
Xét về lỗi trong vụ án này là lỗi hỗn hợp, nhưng lỗi chính là do người bị hại là
ông C đã dùng chiếc kìm đánh vào mặt của bị cáo trước nên dẫn đến việc bị cáo lùi lại chụp lấy cây rựa có sẵn gần đó để tự vệ và đánh vào người của bị hại gây thương tích. Trong quá trình diễn ra hành vi bị cáo nhận thức được tính nguy hiểm của hung khí là cây rựa nên không dùng phần lưỡi rựa mà dùng phần cán rựa đánh vào người của bị hại. Đây là căn cứ cần xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về nhân thân của bị cáo V tốt; sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường thiệt
hại; phạm tội lần đầu; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn là lao động chính trong gia đình có xác nhận chính quyền địa phương, nên áp dụng các các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[4] Xét về căn cứ áp dụng pháp luật và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự, hình phạt áp dụng cho bị cáo mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị tại phiên tòa là tương xứng với hành vi của bị cáo và phù hợp với quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị trên. Bị cáo V có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có địa chỉ nơi cư trú rõ ràng và được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp khất của khung hình phạt và không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà áp dụng Khoản 1, Khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử bị cáo hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao là thỏa đáng mà vẫn có tác dụng giáo dục, trừng trị người phạm tội trong chính sách nhân đạo về hình sự của Nhà nước ta.
Về căn cứ áp dụng pháp luật Viện kiểm sát đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng
vụ án và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là có cơ sở đúng pháp luật.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình ông C theo yêu
cầu với số tiền là 40.000.000 đồng, gia đình ông C không yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Vật chứng vụ án: Thu giữ của ông Thái Văn C 01 cái kìm có thân màu đen,
cán kìm có bọc lớp vỏ cao su màu đỏ đen, dài 20cm và thu giữ của bị cáo V 01 cái rựa cán bằng gỗ dài 70cm, lưỡi nơi rộng nhất 4,5cm, sắc. Xét không còn giá trị sử dụng nên tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51;
Điều 54; Khoản 1, Khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015 và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Áp dụng Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1
Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
[2] Xử phạt: Nguyễn Hoàng V 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án
treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, tính kể từ ngày tuyên án là ngày 22/11/2018.
Giao bị cáo Nguyễn Hoàng V cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Gia Lai
giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 của Luật thi hành án hình sự. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới.
[3] Xử tịch thu tiêu hủy các tang vật sau đây: 01 cái kìm có thân màu đen, cán
kìm có bọc lớp vỏ cao su màu đỏ đen, dài 20cm và 01 cái rựa cán bằng gỗ dài 70cm, lưỡi nơi rộng nhất 4,5cm, sắc.
Việc xử lý vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/11/2018 giữa
cơ quan Công an và cơ quan Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
[4] Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng V phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn
đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[6] Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (22/11/2018) bị cáo, bị hại và
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo bản án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND huyện Đ; - Công an huyện Đ; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa ( Đã ký) Lê Ngọc Bình |