- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội“Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 13/2018/HS.ST Ngày: 28-08-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Th m phán - Ch t a phiên tòa: Ông Phạm Tấn Tài.
Các Hội th m nhân dân:
1. Ông Nguyễn Lâm Tới
2. Bà Huỳnh Thị Thanh
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên tham gia phiên tòa: Ông Chau Rết - Kiểm sát viên sơ cấp
Ngày 28 tháng 8 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 13/2018/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2018/QĐXXST- HS ngày 07/8/2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn C, sinh năm 1982; Sinh, trú quán: ấp A, xã A, huyện T, tỉnh An Giang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: không biết chữ ; Nghề nghiệp: không; con ông Nguyễn Văn Ng (chết) và bà Nguyễn Thị P (1962); anh, chị, em có 03 người, bị cáo là người thứ hai trong gia đình.
- Nhân thân: Ngày 15/05/2012, bị Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở giáo dục tại Bến Giá, về hành vi gây rối trật tự công cộng và trộm cắp tài sản, đến ngày 28/02/2014 chấp hành xong thời gian giáo dục. Ngày 23/3/2014, bị Công an xã A xử phạt hành chính 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản (chưa chấp hành).
- Tiền sự: không.
- Tiền án: Có 02 tiền án.
- Lần 1: Ngày 15/4/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 24/12/2015 chấp hành xong hình phạt.
- Lần 2: Ngày 15/7/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 27/12/2017 chấp hành xong hình phạt.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 27/6/2018 (theo Quyết định truy nã số 02/QĐ-CQĐT ngày 25/6/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tịnh Biên) cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
- Bà Võ Thị Thanh Đ, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh An Giang.
- Bà Neáng Đa N, sinh năm 1985; Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh An Giang.
Người phiên dịch: Ông Lục Tà D, Cán bộ Đài truyền thanh huyện T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài, nên Nguyễn Văn C đã đi tìm tài sản để lấy trộm, khoảng 07 giờ 00 phút ngày 29/12/2017, C đi bộ đến khu vực ấp A, xã A, khi đến nhà chị Võ Thị Thanh Đ, thấy bên trong nhà bếp có cây dao (cán bằng cây dài 13cm, lưỡi bằng kim loại dài 30cm), C lẽn vào lấy trộm và cởi chiếc quần dài (loại quần Jean) đang mặc trên người quấn cây dao rồi tìm người bán, nhưng không bán được nên đi bộ về hướng xã T. Trên đường đi đến quầy thuốc tây A của chị Nguyễn Thị Thanh T, C đi vào hỏi mua thuốc, thì O (con chị T) sợ bỏ chạy ra phía sau kêu chị Neáng Đa N. Lúc nầy thấy điện thoại di động hiệu Oppo A51W của chị N đang sạc pin để trên thùng loa nên C lấy trộm điện thoại rồi đi đến nhà anh Hồ Minh H uống rượu. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, chị N phát hiện điện thoại bị mất, đã báo cho chị T biết, chị T nhờ anh Chau V đi tìm giúp. Khi anh V đến khu vực cổng Lâm Viên thì thấy C đang đi bộ, nên anh giả vờ hỏi mua điện thoại thì C đưa điện thoại đã trộm của chị N cho anh V xem kêu giá bán 150.000đ, anh V đến công an xã A trình báo. Hiện các tang vật đã được thu hồi trả chủ sở hữu.
* Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 67 ngày 10/01/2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Tịnh Biên, xác định:
- Điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A51W trị giá 1.050.000đ.
- 01 cây dao (cán bằng cây dài 13cm, lưỡi bằng kim loại dài 30cm) trị giá 200.000đ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì Bản kết luận định giá tài sản.
Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKSTB-HS ngày 28 tháng 5 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên đã truy tố Nguyễn Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa, đổi bổ sung năm 2017;
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Văn C thừa nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu, trong lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Trộm cắp tài sản”
Đề nghị Hội đồng xét xử:
*Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt Nguyễn Văn C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”
- Các biện pháp tư pháp:
* Phần bồi thường dân sự: Những người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì bồi thường gì thêm, do đó không đề nghị để xem xét.
* Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sư đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 quần Jean là vật chứng được thu giữ trong vụ án do không còn giá trị sử dụng.
* Về hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
Trong quá điều tra và tại phiên tòa hôm nay Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1].Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tịnh Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2].Những chứng cứ xác định tội danh của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn C khai nhận: Do cần có tiền tiêu xài, bị cáo đã lẽn vào nhà của chị Võ Thị Thanh Đ và quầy thuốc tây của chị Nguyễn Thị Thanh T để thực hiện 02 lần lấy trộm tài sản: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A51w của chị Néang Đa N; 01 cây dao (cán bằng cây dài 13cm, lưỡi bằng kim loại dài 30cm) của chị Võ Thị Thanh Đ. Tổng giá trị tài sản lấy trộm được cả 02 lần là 1.250.000đ.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và lời khai của những người làm chứng.
Lời khai của bị cáo còn phù hợp với Bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã đủ căn cứ xác định chính bị cáo Nguyễn Văn C đã có hành vi lợi dụng lúc không người trông giữ tài sản đã lén lút lấy trộm tài sản.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý, tuy tài sản chiếm đoạt có giá trị dưới 2.000.000đ, nhưng bị cáo Nguyễn Văn C đã có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích, do đó có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người đúng tội. Tội phạm và hình phạt được qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của con người được pháp luật bảo vệ, ngoài ra còn gây sự hoang mang và làm mất lòng tin trong quần chúng nhân dân gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương; Chính vì vậy cần phải có một mức án thật nghiêm khắc. Xét cần phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung.
[3].Các tình tiết, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo liên tiếp thực hiện hành vi phạm tội 02 lần, nên cần phải áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản chiến đoạt không lớn và đã được thu hồi trả chủ sở hữu, do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Vì vậy ý kiến của Viện kiểm sát đề nghị : Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt Nguyễn Văn C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” là có cơ sở.
Về hình phạt bổ sung: Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, hoàn cảnh gia đình, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4].Các biện pháp tư pháp:
*Trách nhiệm dân sự: Các người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét đến.
* Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 quần Jean là vật chứng được thu giữ trong vụ án do không còn giá trị sử dụng.
[5].Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội“Trộm cắp tài sản”
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt :
Nguyễn Văn C: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 27/6/2018.
* Xử lý vật chứng : Tịch thu tiêu hủy 01 quần Jean là vật chứng được thu giữ trong vụ án do không còn giá trị sử dụng.
(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/6/2018).
Về án phí
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
Bị cáo Nguyễn Văn C và đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Những người tham gia tố tụng - VKSND huyện Tịnh Biên; - Tòa án nhân dân tỉnh AG; - Nhà Tạm giữ; - Thi hành án DS huyện TB ; - THA HS CA h Tịnh Biên; - Bộ phận THA Tòa án; - UBND cấp xã nơi BC cư trú ; - Sở Tư Pháp; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tấn Tài |