- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Hữu L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo V.H. L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13 /2018/HS-ST Ngày: 09-02-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Lệ Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Quỳnh Nga
Bà Hoàng Thị Tuyết
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 05/2018/HSST ngày 22/01/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2018/ HSST- QĐ ngày 25 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:
V.H. L , (tên khác Tý) sinh năm 1984 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Tổ X, khu phố A, phường B, thành phố B , tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông: Võ Văn H và bà Nguyễn Thị N ; Tiền án: không; tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 31/12/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 5 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 28/8/2014 đã chấp hành xong thời gian thử thách. Bị bắt tạm giam từ ngày 15/11/2017 (có mặt).
Người bị hại: Ông Nguyễn P , sinh năm: 1991 (vắng mặt);
Địa chỉ: N11, ấp P , xã T , huyện L , tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1- Bà T .T, sinh năm: 1974 (vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ 19/5, Ô 3, KP H 1, thị trấn H , huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng
Tàu.
2- Ông Đỗ N (vắng mặt);
Địa chỉ: 38/8 KP P, thị trấn H, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Người làm chứng:
Ông Tr Đ Th , sinh năm: 1964 (vắng mặt);
Địa chỉ: số A, khu phố X, phường P , thành phố B , tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biễn tại phiên tòa, nội dung vụ án được xác định như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 28 tháng 10 năm 2017, V.H. L mang theo một “đoản” tự chế, một cờ lê 10 đi xe buýt từ thành phố V đến Trung tâm văn hóa tại số 147 đường A, phường B để xem biểu diễn nghệ thuật. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, L phát hiện xe mô tô hiệu YAMAHA loại Sirius, biển kiểm soát 72K1 – XXX của anh Nguyễn P đang dựng, không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. L lén lút dùng đoản tự chế phá khóa, dắt trộm chiếc xe trên thì bị phát hiện bắt quả tang. Tang vật thu giữ: Một đoản tự chế; một khóa cờ lê 10; một điện thoại di động hiệu Mobistar màu đen; một ống tiêm đã sử dụng; một xe mô tô biển kiểm soát 72K1 – 101.06.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 108/KL-HĐĐGTS ngày 03/11/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng UBND TP Bà Rịa xác định: Trị giá xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, màu vàng đen, biển kiểm soát 72K1 – 101.06, số máy RLC5C640CY746138, số máy 5C64-746147 tại thời điểm ngày 28/10/2017 là 11.333.333 đ (Mười một triệu ba trăm ba mươi ba ngàn ba trăm ba mươi ba đồng).
Quá trình điều tra xác định xe moto nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, màu vàng đen, biển kiểm soát 72K1 – XXX, số máy RLC5C640CY746138, số máy 5C64-xxxxx đăng ký chủ sở hữu là ông Đỗ N, địa chỉ: 38/8 KP P, thị trấn H, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Năm 2014, ông N cầm cố xe cho bà T .T, sinh năm 1974, địa chỉ: Tổ 19/5, Ô 3, KP H 1, thị trấn H, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, do đến thời hạn thanh lý nên bàT bán lại cho anh Nguyễn P (mua bán bằng giấy viết tay), anh P chưa làm thủ tục chuyển quyền sở hữu. Ngày 01/12/2017, cơ quan CSĐT công an thành phố Bà Rịa ra quyết định số 04/QĐ xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe mô tô nêu trên cho anh Nguyễn P.
Vật chứng vụ án: Một đoản tự chế; một khóa cờ lê 10; một điện thoại di động hiệu Mobistar màu đen; một ống tiêm đã sử dụng. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa bảo quản chờ xử lý.
Trách nhiệm dân sự: ông Nguyễn P, bà T .T và ông Đỗ N không có yêu cầu.
Bản cáo trạng số 07/QĐ-KSĐT ngày 19/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố V.H. L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Quan điểm luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa: Giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo V.H. L mức án từ 9 đến 12 tháng tù, tuyên tiêu hủy một đoản tự chế; một khóa cờ lê 10; một ống tiêm đã sử dụng; trả cho bị cáo một điện thoại di động hiệu Mobistar màu đen.
Tại phiên tòa, bị cáo L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu, bị cáo không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bà Rịa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Lời khai nhận của bị cáo V.H. L tại phiên tòa phù hợp với lời khai người bị hại và các tài liệu khác. Từ đó đã xác định: 21 giờ 30 phút ngày 28/10/2017, V.H. L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Nguyễn P xe mô tô trị giá 11.333.333 đ. Hành vi của bị cáo L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân và gây tác động xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Mặt khác, bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị kết án tù về tội trộm cắp nhưng cho hưởng án treo, đã chấp hành xong thời gian thử thách, do đó đối với bị cáo cần phải có mức hình phạt tù nghiêm khắc để nhằm răn đe, giáo dục đồng thời có tính chất phòng ngừa tội phạm chung.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo; toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi nên chưa gây thiệt hại; vì vậy cần áp dụng các điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu tiêu hủy một đoản tự chế; một khóa cờ lê 10; một ống tiêm đã sử dụng. Điện thoại di động hiệu Mobistar màu đen là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả cho bị cáo.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn P không có yêu cầu.
-Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo V.H. L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo V.H. L 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/11/2017.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu và tiêu hủy một đoản phá khóa xe tự chế; một khóa cờ lê 10; một ống tiêm đã sử dụng.
- Trả cho bị cáo V.H. L 01 điện thoại di động hiệu Mobistar B218, số Imel 226959 màu đen đã cũ.
(Các vật chứng trên đã được chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B theo biên bản giao nhận vật chứng số 25/BB.THA ngày 19/01/2018).
3. Án phí : Bị cáo L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4.Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm (đối với người vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - VKSND T.p Bà Rịa; - Công an T.p Bà Rịa; - CCTHADS T.p Bà Rịa; - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | Đã ký Lý Thị Lệ Thủy |