- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Phụng - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 173 Bộ luật Hình sự xử phạt
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2018/HS-ST Ngày: 06-11-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Tiến và bà Lê Thị Thúy Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bình – Thư ký Toà án nhân dân huyện Triệu Phong.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đổng – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2018, tại Hội trường tiểu khu 2, thị trấn Ái Tử, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2018/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2018/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn P (Tên gọi khác: Nguyễn P), sinh ngày 09 tháng 3 năm 1980, tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn Việt Yên, xã Triệu Phước, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Thợ nề; Trình độ văn hóa: 6/12; dân tộ giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị V (đều đã chết); vợ: Phan Thị S, sinh năm 1979, nơi cư trú: Thôn Việt Yên, xã Triệu Phước, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị; con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2004 và nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 23/4/2002, bị Công an xã Triệu Phước xử phạt cảnh cáo về hành vi “Uống rượu, đánh người gây thương tích”.
Ngày 17/7/2002, bị Ủy ban nhân dân xã Triệu Phước xử phạt hành chính 100.000 đồng về hành vi “Uống rượu, gây rối trật tự, xúc phạm đến danh dự người khác” theo quyết định xử phạt hành chính số 09/QĐ-XP ngày 17/7/2002 của Ủy ban nhân dân xã Triệu Phước.
Ngày 24/8/2003, bị Ủy ban nhân dân xã Triệu Phước áp dụng biện pháp giáo dục tại xã thời gian 06 tháng với lý do: Là đối tượng thường xuyên uống rượu gây rối trật tự công cộng, đánh người gây thương tích, trộm cắp tài sản đã được răn đe, giáo dục, xử lý hành chính nhiều lần nhưng không tiến bộ, theo quyết định số 60/QĐ-UB ngày 24/8/2003 của Ủy ban nhân dân xã Triệu Phước.
Ngày 15/3/2005 bị Ủy ban nhân dân xã Triệu Phước áp dụng biện pháp giáo dục tại xã thời gian 06 tháng với lý do: Uống rượu gây rối trật tự công cộng, phá hoại tài sản công dân, đã được giáo dục nhiều lần nhưng không tiến bộ, theo quyết định số 07/QĐ-UB ngày 15/3/2005 của Ủy ban nhân dân xã Triệu Phước.
Ngày 30/01/2006, bị Công an xã Triệu Phước xử phạt hành chính 100.000 đồng về hành vi “Đánh nhau, cố ý gây thương tích”, theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-CA ngày 30/01/2006 của Công an xã Triệu Phước.
Ngày 12/12/2006, bị Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 18 tháng về hành vi “Nhiều lần xâm phạm tài sản, sức khỏe của công dân, vi phạm trật tự an toàn xã hội, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã nhưng không tiến bộ”, theo quyết định số 2366/QĐ-UB ngày 12/12/2006 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị, chấp hành xong ngày 14/8/2008.
Bị cáo tại ngoạ -
a.
- Bị hại: Chị Đặng Thị T, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn Việt Yên, xã Triệu Phước, huyện Triệu phong, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1979; nơi cư trú: Khu phố 2, phường Đông Lễ, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1990; nơi cư trú: Khu phố 1A, phường Đông Lễ, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
Ông Hồ Vĩnh Đ, sinh năm 1972; nơi cư trú: Thôn Gia Độ, xã Triệu Độ, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 17/4/2018, Nguyễn Văn P đi ngang qua nhà bà Đặng Thị T ở thôn Việt Yên, xã Triệu Phước thì phát hiện xe máy nhãn hiệu FLYAMAHA, màu sơn đen đỏ, không gắn biển kiểm soát dựng trước sân nhà, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. P đi bộ đến vị trí dựng xe, bật khóa điện, điều khiển xe chạy ra Ngã Tư Sòng để gặp ông H để lấy tiền công, nhưng không gặp, nên P điều khiển xe vào thành phố Đông Hà. Khi vào đến Đông Hà, P nảy sinh ý định đưa xe đi cầm cố lấy tiền tiêu xài, P gặp Nguyễn Xuân T trú tại phường Đông Lễ, thành phố Đông Hà để nhờ T đi cầm xe lấy tiền tiêu xài. Do T không cầm được nên T điện thoại nhờ Nguyễn Văn T cầm xe. Khi gặp T và Toàn P nói xe của P mới mua, do kẹt tiền mua vật liệu nên nhờ T và T đưa xe đi cầm lấy 3.000.000 đồng. Do không cầm được xe nên anh T giao xe lại cho anh T. Anh T không biết rõ địa chỉ, số điện thoại của P nên anh T cất giữ xe tại nhà mình cho đến ngày 25/6/2018, anh T đã giao nộp xe cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Triệu Phong để phục vụ công tác điều tra.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 19/KLĐG ngày 12/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Triệu Phong, kết luận: Giá trị tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là 13.775.000 đồng.
Cáo trạng số 12/CT-VKS-HS ngày 16/10/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong truy tố Nguyễn Văn Phụng về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản; áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Văn P từ 9 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật. Hình phạt bổ sung không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 17/4/2018, khi đi ngang qua nhà chị Đặng Thị T ở thôn Việt Yên, xã Triệu Phước, huyện Triệu Phong, Nguyễn Văn P phát hiện chiếc xe máy nhãn hiệu FLYAMAHA, màu sơn đen đỏ, không gắn biển kiểm soát dựng trước sân nhà, chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa điện nên Phụng nãy sinh ý định trộm xe để cầm cố lấy tiền tiêu xài. Quan sát thấy không có người nên Phụng đi đến chổ để xe bật chìa khóa xe nổ máy và điều khiển xe ra Ngã Tư Sòng để gặp ông H lấy tiền công nhưng không gặp. Sau đó P đưa xe vào Đông Hà nhờ Nguyễn Xuân T và Nguyễn Văn T cầm cố để lấy tiền nhưng không được.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 19/KLĐG ngày 12/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Triệu Phong, kết luận giá trị tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là 13.775.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định xử phạt tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội và quá trình nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Nguyễn Văn P là người có sức khỏe để tự lao động nuôi sống bản thân mình và gia đình nhưng do ý thức chấp hành pháp luật kém, xem thường việc sở hữu tài sản của người khác mà dẫn đến phạm tội. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn làm mất trật tự trị an, gây ảnh hưởng xấu đến dư luận quần chúng nhân dân sinh sống trên địa bàn xã Triệu Phước nói riêng và huyện Triệu Phong nói chung trong việc quản lý tài sản. Bị cáo có nhân thân xấu, từ năm 2002 đến năm 2006 đã bị chính quyền địa phương và UBND tỉnh Quảng Trị xử phạt hành chính 06 lần về các hành vi như trộm cắp, uống rượu, đánh người gây thương tích, gây rối trật tự công cộng, xúc phạm đến danh dự người khác. Trong đó có một lần đưa vào trường giáo dưỡng vào năm 2006 với thời hạn là 18 tháng. Với các quyết định xử phạt hành chính và một lần đưa vào cơ sở giáo dưỡng, lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học cho bản thân mình và chấp hành phát luật tốt hơn nhưng bị cáo tỏ thái độ xem thường pháp luật. Vì vậy, cần phải xử lý một cách nghiêm khắc đối với bị cáo mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm đang có chiều hướng gia tăng nhanh trên địa bàn huyện. Tuy nhiên, khi xem xét quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy: Cần áp dụng các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo vì: Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Sau khi xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tính chất, mức độ hành vi phạm tội và quá trình nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo từ 9 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo. Việc Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo hưởng án treo Hội đồng xét xử thấy rằng: Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng bị cáo có nhân thân quá xấu được thể hiện như: Trong các lần bị xử phạt hành chính thì có nhiều lần có hành vi trộm cắp vặt là hành vi cùng loại với tội phạm mà bị cáo đang bị xét xử, cho nên nếu cho bị cáo hưởng án treo thì không đảm bảo tính răn đe giáo dục, phòng ngừa đối với loại tội phạm đang có chiều hướng gia tăng trên địa bàn huyện, vì vậy Hội đồng xét xử không cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Viện kiểm sát.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Công an huyện Triệu Phong đã thu hồi xe mô tô trả lại cho chị T. Tại phiên tòa chị T vắng mặt, tuy nhiên trong quá trình điều tra chị T không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Triệu Phong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P (Tên gọi khác: Nguyễn P) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án trên một cấp để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND tỉnh Quảng Trị; - VKSND huyện Triệu Phong; - Công an huyện Triệu Phong; - Những người tham gia tố tụng; - Thi hành án hình sự; - Chi cục THADS huyện Triệu Phong; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Xuân Hải |