vanban.org

Bản án 13/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 02/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn K 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN TỊNH
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2018/HS-ST
Ngày 02 tháng 10 năm 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Ngọc Nghĩa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Trung Thành.

Ông Phạm Quang Ý.

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Chi, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hòa - Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2018/TLST-HS ngày 24/4/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2018/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2018/HSST-QĐ ngày 11 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn K, sinh ngày: 28/4/1992, tại xã H, huyện T, tỉnh N.

Nơi cư trú: xã H, huyện T, tỉnh N;

Nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Nguyễn S và bà Lê Thị C; có vợ, con;

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Vợ chồng ông H và bà T; đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

Nơi cư trú: xã P, huyện T, tỉnh N;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 25/10/2017, bị cáo Nguyễn Văn K đón xe ô tô khách từ thành phố Đà Nẵng về tỉnh Quảng Ngãi trên đường Quốc lộ IA, khi đến đoạn đường thuộc xã Tịnh Phong, huyện Sơn Tịnh, bị cáo xuống xe rồi đi bộ vào khu công nghiệp để xin việc làm. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo đi bộ ra khỏi khu công nghiệp qua phía Tây đường Quốc lộ IA khi đi được khoảng 500m, bị cáo phát hiện thấy trong sân nhà của ông Trần Văn H ở, xã P, huyện T có dựng 01 xe máy hiệu Honda Cub 50 màu xanh trắng biển số kiểm soát 76FB-0164 trên xe có sẵn chìa khóa, quan sát thấy không có người trông coi nên bị cáo đến quay đầu xe rồi bật chìa khóa nổ máy điều khiển xe chạy trên Quốc lộ IA vào hướng Nam. Lúc này, anh L (con trai ông H) đang ở trong nhà nghe tiếng nổ của xe máy thì nhìn ra sân thấy có người lấy xe của gia đình nên điều khiển xe mô tô đuổi theo bị cáo và truy hô. Khi đi đến đoạn đường trước Ủy ban nhân dân xã Phong, lúc này khoảng 11 giờ, thì L đuổi kịp và giữ được xe máy, còn bị cáo chạy trốn vào đám đất trồng cây keo gần đó, đến khoảng 11 giờ 40 phút nghĩ không còn người đuổi theo nên bị cáo đi ra ngoài đường Quốc lộ IA thì bị ông B bắt giữ đưa về trụ sở Công an xã Tịnh Phong làm việc. Tang vật tạm giữ 01 xe máy hiệu Honda cub 50, màu xanh trắng, biển số kiểm soát 76FB-0164.

Ngày 03/11/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Tịnh ra quyết định trưng cầu định giá tài sản. Tại Bản kết luận định giá ngày 03/11/2017 của Hội đồng định giá tố tụng hình sự huyện Sơn Tịnh kết luận, trị giá xe máy hiệu Honda Cub 50 biển số kiểm soát 76FB-0164 tại thời điểm bị xâm hại còn 50% giá trị sử dụng, trị giá 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).

Hành vi của Nguyễn Văn K đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Bản Cáo trạng số: 06/CT-VKSST ngày 23/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Văn K về tội “Trộm cắp tài sản”; xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù.

Về phần dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không xét.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Sau khi Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh thụ lý vụ án, đã áp dụng biện pháp ngăn chặn, cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Văn K, nhưng bị cáo đã bỏ trốn và cơ quan Công an huyện Sơn Tịnh đã truy nã nhưng không có kết quả. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo K là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình thực hiện việc xét xử vắng mặt bị cáo K, ngày 19/9/2018 bị cáo Nguyễn Văn K bị Công an thành phố Quảng Ngãi bắt giữ liên quan đến vụ án khác, nên bị cáo Nguyễn Văn K có mặt tại phiên tòa. [1] Bị cáo K là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng do ý thức xem thường pháp luật, để có tiền tiêu xài cá nhân nên vào ngày 25 tháng 10 năm 2017 lợi dụng lúc nhà của ông H vắng người, bị cáo đã lén lút lấy trộm xe máy hiệu Honda cub 50, biển số kiểm soát 76FB-0164 với giá trị là 4.000.000 đồng tại xã P, huyện T, nên hành vi của bị cáo Kim đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự ; Nghị quyết 41/2017/QH124 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, nên cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng để giáo dục và phòng ngừa tội phạm. [2] Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo. [3] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét. [4] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng pháp luật. [5] Về án phí: Bị cáo K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. [6] Kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn K 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

3. Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo K có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân xã Tịnh Phong theo quy định tại Điều 140 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Cỡ chữ