vanban.org

Bản án 13/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lưu Thị Y và anh Đoàn Văn C.

Về con chung: Giao con chung là cháu Đoàn Đức A, sinh ngày 27/01/2015 cho chị Lưu Thị Y được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị Y tự nguyện không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lưu Thị Y và anh Đoàn Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM THÀNH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 29/6/2018
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Quy

2. Ông Nguyễn Ngọc Tuy

- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Quốc Cường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Nhuần - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kim Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 98/2018/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2018/QĐXX-ST ngày 31 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lưu Thị Y, sinh năm 1990. ĐKHKTT: thôn B, xã L, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Hiện ở: thôn M, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Đoàn Văn C, sinh năm 1987. Địa chỉ cư trú: thôn B, xã L, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 3 năm 2018 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lưu Thị Y trình bày: Chị và anh Đoàn Văn C kết hôn vào ngày 28/4/2011 trên cơ sở tự nguyện, được đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hoà thuận hạnh phúc được khoảng 4 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do hai bên không hợp nhau về tính tình, không bảo ban nhau được cách làm ăn kinh tế cũng như sinh hoạt hàng ngày. Mặt khác, anh C mải chơi không quan tâm đến gia đình, vợ con. Đã nhiều lần chị động viên, khuyên bảo anh C song anh C không thay đổi nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng sâu sắc. Đến tháng 3/2018, vợ chồng lại xảy ra mâu thuẫn và chị phải chuyển về nhà bố mẹ đẻ tại xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng sinh sống và vợ chồng sống ly thân từ đó cho tới nay. Nay chị Y xác định thực sự tình cảm vợ chồng giữa chị và anh C không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn anh C để giải phóng cho đôi bên khỏi giàng buộc.

Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai, anh Đoàn Văn C trình bày: Anh và chị Y kết hôn vào năm 2011 trên cơ sở tự nguyện và được đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được 7 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do bản thân anh chơi bời không quan tâm đến gia đình vợ con, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã và không có tiếng nói chung. Từ tháng 3/2018, chị Y đã bỏ về nhà ngoại sinh sống và vợ chồng sống ly thân từ đó. Nay anh C xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên chị Y xin ly hôn anh không nhất trí.

Về con chung: Chị Y và anh C cùng xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Đoàn Đức A, sinh ngày 27/01/2015, hiện nay cháu đang ở với anh C. Nay ly hôn, quan điểm của chị Y và anh C đều xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và tự nguyện không yêu cầu bên kia phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung: Chị Y và anh C cùng xác định vợ chồng không có tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, đại diện VKS nhân dân huyện Kim Thành tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng thủ tục tố tụng dân sự, Nguyên đơn, Bị đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự.

- Về việc quyết vụ án: áp dụng khoản 01 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí lệ phí Tòa án. Xử cho chị Lưu Thị Y được ly hôn anh Đoàn Văn C; Về con chung: Giao con chung là Đoàn Đức A, sinh ngày 27/01/2015 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung: Không đặt ra việc giải quyết; Về án phí: Chị Y phải nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Chị Lưu Thị Y là Nguyên đơn đơn trong vụ án có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Đoàn Văn C là Bị đơn trong vụ án được triệu tập hợp lệ hai lần đến phiên tòa vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 01 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt chị Y và anh C.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lưu Thị Y và anh Đoàn Văn C kết hôn với nhau trên tinh thần tự do tìm hiểu và tự nguyện đi đến hôn nhân, được đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin được ly hôn của chị Lưu Thị Y thì thấy rằng: Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Y và anh C là do hai bên không hợp nhau về tình tình, thường xuyên bất đồng về quan điểm sống. Mặc dù anh C không nhất trí ly hôn, song quá trình giải quyết vụ án anh C đều thừa nhận vợ chồng nhiều lần xảy ra mâu thuẫn cãi cọ lẫn nhau. Mặt khác, sau khi chị Y bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, anh C và chị Y cũng không tìm được giải pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng mà vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi. Như vậy, xác định được quan hệ hôn nhân giữa chị Y và anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị Lưu Thị Y để xử cho chị Y được ly hôn anh Đoàn Văn C là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Y và anh C đều có nguyện vọng xin được trưc tiếp nuôi con. Xét thấy nguyện vọng của chị Y và anh C là hoàn toàn chính đáng, chị Y và anh C đều có việc làm và chỗ ở ổn định, có thu nhập hàng tháng đảm bảo được cuộc sống cho con nếu được giao nuôi con chung. Tuy nhiên, do con chung của chị Y và anh C còn nhỏ nên rất cần sự quan tâm, chăm sóc trực tiếp từ ngườì mẹ. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị Y, giao cháu Đoàn Đức A, sinh ngày 27/01/2015 cho chị Y được tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc là phù hợp.

Về tiền cấp dưỡng nuôi con: Do chị Y tự nguyện không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung, do vậy không đặt ra việc giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Y và anh C xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, không đặt ra việc giải quyết.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Chị Lưu Thị Y có đơn yêu cầu ly hôn nên phải nộp tiền án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 01 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, điểm b khoản 02 Điều 227, khoản 01 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyªn xö:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lưu Thị Y và anh Đoàn Văn C.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Đoàn Đức A, sinh ngày 27/01/2015 cho chị Lưu Thị Y được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị Y tự nguyện không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Hai bên không yêu cầu nên không đặt ra việc giải quyết.

4. Về án phí: Chị Lưu Thị Y phải nộp 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn, nhưng được đối trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo Biên lai thu tiền số: AA/2016/0000808 ngày 24/4/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Chị Y đã nộp đủ án phí sơ thẩm ly hôn.

Nguyên đơn và Bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án./.

Cỡ chữ