vanban.org

Bản án 13/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1- Cho ly hôn giữa chị Trịnh Thị T và anh Trần Quang V. 2- Về con chung: Giao 02 con chung tên Trần Gia B, sinh ngày 07/10/2012 và Trần Bảo H, sinh ngày 11/02/2016, cho chị Trịnh Thị T trực tiếp nưôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi thành niên. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Chi Trinh Thi T tranh chấp ly hôn anh Trần Quang V"
  • Tòa quyết gì? Căn Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 13/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 05-03-2018.
V/v: “ Tranh chấp ly hôn giữa chị
T và anh V”.

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tuyết Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ha Tông

Ông Đặng Nguyễn Văn Tích.

-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đ - tỉnh Lâm Đồng.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh V – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 510/2017/TLST-HNGĐ ngày 02/10/2017, về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/01/2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị T, sinh năm 1986

Địa chỉ: số 93, đường N, phường E, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên tòa.

Bị đơn: Anh Trần Quang V, sinh năm: 1985.

Địa chỉ: số 21/2, hẻm N, phường E, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.Vắng

mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nộp tại Tòa án thành phố Đà Lạt và quá trình tố tụng nguyên đơn chị Trịnh Thị T trình bày: Chị và anh Trần Quang V chung sống với nhau từ năm 2012, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, nhưng đến năm 2016 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân phường E, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi kết hôn vợ chồng thuê nhà chung sống tại số 93 đường N, phường 6, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống chung vợ chồng hòa Thuận hạnh phúc 01 năm thì phát sinh mâu Thuẫn. Nguyên nhân là anh V ham chơi bài, tụ tập bạn bè thường xuyên ăn nhậu và còn sử dụng ma túy đá, không có trách nhiệm với gia đình vợ con, thường xuyên đi chơi qua đêm không về. Chị cố níu kéo đã 05 năm nhưng anh V không thay đổi, nay chị xác định không còn tình cảm với anh V, nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Quang V.

Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Gia B, sinh ngày 07/10/2012 và Trần Bảo H, sinh ngày 11/02/2016. Các con đang ở chung với vợ chồng, ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung vì từ trước đến nay con do chị nuôi dưỡng, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có. Anh Trần Quang V được triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt, nên không hòa giải được.

Tại phiên tòa, Chi T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ phát biểu ý kiến về sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án như của Hội đồng xét xử tại phiên tòa và của những người tham gia tố tụng.

Về yêu cầu khởi kiện đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, cho ly hôn giữa chị T và anh V. Giao con chung tên Trần Gia B, sinh ngày 07/10/2012 và Trần Bảo H, sinh ngày 11/02/2016 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên. Việc ấp dưỡng nuôi con và tài sản chung không có tranh chấp nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định;

Về tố tụng: Anh Trần Quang V được triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt. Vì vậy căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án xét xử vắng mặt.

Về quan hệ tranh chấp: Chị Trịnh Thị T có đơn yêu cầu xin ly hôn với anh Trần Quang V và yêu cầu nuôi con, anh V được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt để trình bày ý kiến, nên xác định quan hệ tranh chấp giữa các bên là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”. Anh V cư trú, sinh sống tại: số 21/2, hẻm N, phường E, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, căn cứ vào khoản 1 điều 28, điểm a, khỏa 1 Điều 35, điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Về quan hệ hôn nhân: Giữa chị Trịnh Thị T và anh Trần Quang V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân phường E, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng vào năm 2016 nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh V là tuân thủ đúng trình tự quy định của pháp luật. Theo chị T qúa trình chung sống không hạnh phúc nguyên nhân do anh V ham chơi bài, tụ tập bạn bè thường xuyên ăn nhậu và còn sử dụng ma túy đá, không có trách nhiệm với gia đình vợ con, nên chị yêu cầu ly hôn. Về phía anh V được tòa án triêu tập hợp lệ nhưng không có mặt là thể hiện thái độ không còn mong muốn hằn gắn tình cảm vợ chồng với chi T. Với thực trạng của quan hệ hôn nhân thể hiện mâu Thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng đối với nhau không còn, có kéo dài thì mục đích của hôn nhân cũng không đạt. Nên yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ, áp dụng Điều 56 luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trịnh Thị T, cho ly hôn giữa chị Trịnh Thị T và anh Trần Quang V.

Về con chung: Giữa vợ chồng chị T và anh Trần Quang V có 02 con chung tên Trần Gia B, sinh ngày 07/10/2012 và Trần Bảo H, sinh ngày 11/02/2016, ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh V không đến Tòa trình bày ý kiến. Xét các con chưa đủ 7 tuổi, cần sự chăm sóc của mẹ nên chấp nhận yêu cầu của chị T, giao các cho chi T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên là phù hợp với qui đinh của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chị T không yêu cầu anh V cấp dưỡng nên không đề cập.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có tranh chấp nên không đề cập.

Về án phí : Chị Trịnh Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 56, 57, 58, 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1- Cho ly hôn giữa chị Trịnh Thị T và anh Trần Quang V.

2- Về con chung: Giao 02 con chung tên Trần Gia B, sinh ngày 07/10/2012 và Trần Bảo H, sinh ngày 11/02/2016, cho chị Trịnh Thị T trực tiếp nưôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi thành niên.

Quyền thăm nom con, thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

3-Về án phí: Chị Trịnh Thị T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm (Được trừ vào số tiền tạm nộp án phí chị T đã nộp theo biên lai T số AAA/2016/0001657 ngày 27/9/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ), chị Trịnh Thị T đã nộp đủ.

Chị Trịnh Thị T có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Trần Quang V có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. /. Nơi nhận

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Lâm Đồng (02);

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tp.Đ;

(Đã ký tên và đóng dấu)

- UBND phường E.Tp.Đ

- Chi cục THADS tp. Đ;

- Các đương sự;

- Lưu AV - HS.

Đoàn Thị Tuyết Nga TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH LÂM ĐỒNG

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 15 giờ 00 ngày 05 tháng 3 năm 2018, tại phòng nghị án, Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tuyết Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Ha Tông

+ Ông Đặng Nguyễn Văn Tích

Tiến hành nghị án vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 510/2017/TLST-HNGĐ ngày 02/10/2017. về việc tranh chấp ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/01/2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị T, sinh năm 1986

Địa chỉ: số 93, đường Ngô Quyền, phường 6, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Ông Trần Quang V, sinh năm: 1985.

Địa chỉ: số 21/2, hẻm Ngô Quyền, phường 6, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Căn vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện viên kiểm sát, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC

VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1. Về quan hệ tranh chấp:

+ Ý kiến của Hội thẩm Ha Tông: Chị T ly hôn anh V và xin nuôi con chung, anh V không đến Tòa nên xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “ Tranh chấp ly hôn và nuôi con”

+ Ý kiến của Hội thẩm nhân dân Đặng Nguyễn Văn Tích: thống nhất với ý kiến của Hội thẩm Ha Tông.

+ Ý kiến của chủ tọa phiên tòa: thống nhất với ý kiến của hai vị Hội thẩm.

- Biểu quyết 3/3 thống nhất ý kiến nêu trên.

2. Về điều luật và các văn bản pháp luật được áp dụng:

+ Ý kiến của Hội thẩm nhân dân Păng Ting Nock:

- Căn cứ Điều 28, Điều 35, 38 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điều 56, 57, 58 , 81 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

+ Ý kiến của Hội thẩm nhân dân Đặng Nguyễn Văn Tích:

+ Ý kiến của Hội thẩm nhân dân Ha Tông: thống nhất với ý kiến của Hội thẩm Păng Ting Nock.

+ Ý kiến của chủ tọa phiên tòa: thống nhất với ý kiến của hai vị Hội thẩm.

- Biểu quyết 3/3 thống nhất ý kiến nêu trên.

3. Về giải quyết các vấn đề của vụ án:

+ Ý kiến của Hội thẩm nhân dân Đặng Nguyễn Văn Tích: Về quan hệ hôn nhân: Giữa chị T và anh V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân phường 6, thành phố Đà Lạt vào năm 2016 nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh V là tuân thủ đúng trình tự quy định của pháp luật. Theo chị T qua trình chung sống không hạnh phúc Nguyên nhân do anh V ham chơi bài, tụ tập bạn bè thường xuyên ăn nhậu và còn sử dụng ma túy đá, không có trách nhiệm với gia đình vợ con. tình cảm vợ chồng đối với nhau không còn yêu cầu ly hôn. Về phía anh V được tòa án triêu tập hợp lệ nhưng không có mặt là thể hiện thái độ không con mong muốn hằn gắn tình cảm với chi T. Với thực trạng của quan hệ hôn nhân thể hiện mâu Tẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng đối với nhau không còn, có kéo dài thì mục đích của hôn nhân cũng không đạt. Nên yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ, chấp nhận, cho ly hôn giữa chị T và anh V.

Về con chung: Giữa vợ chồng chị T và anh V có 02 con chung, chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bản thân anh V không đến Tòa trình bay ý kiến. Xét các con chưa đủ 7 tuổi, hiện đang do chị T chăm sóc cuộc sống của các con đã ổn định, để bảo đảm lợi ích của các con, nên chấp nhận yêu cầu của chị T, giao các con cho chi T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chị T không yêu cầu nên không đề cập.

Về tài sản chung: Chị T khai không có nên không đề cập.

Về nợ chung : Chi T khai xác định không có nên không đề cập.

+ Ý kiến của Hội thẩm nhân dân Ha Tông: thống nhất với ý kiến của Hội thẩm Đặng Nguyễn Văn Tích.

+ Ý kiến của chủ tọa phiên tòa: thống nhất với ý kiến của hai Hội thẩm.

- Biểu quyết 3/3 thống nhất ý kiến nêu trên.

4-Về án phí:

+ Ý kiến của Hội thẩm nhân dân Ha Tông: Chi Linh phải chịu án phí HNGĐ theo qui định.

+ Ý kiến của Hội thẩm nhân dân Đặng Nguyễn Văn Tích: thống nhất với ý kiến của Hội thẩm Ha Tông.

+ Ý kiến của chủ tọa phiên tòa: thống nhất với ý kiến của hai vị Hội thẩm.

- Biểu quyết 3/3 thống nhất ý kiến nêu trên.

Nghị án kết thúc vào hồi 15giờ 30 phút, cùng ngày. Biên bản đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thành viên hội đồng xét xử

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ha Tông- Đặng Nguyễn Văn Tích

Đoàn Thị Tuyết Nga

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân

Thẩm phán –

dân

Chủ tọa phiên

tòa

Ha Tông- Đặng

Nguyễn Văn

Đoàn Thị Tuyết

Nga

Tích.

Cỡ chữ