- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn bà Lâm Thị Sà R.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Quyết định số 783/2005/QĐ-NHNN Về việc sửa đổi, bổ sung Khoả…; Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN Về việc sửa đổi, bổ sung một…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2018/DS-ST Ngày: 09-02-2018 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đào Văn Nô;
2. Bà Huỳnh Thị Lượng.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã T tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Giáp – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 02 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 258/2017/TLST-DS ngày 01/11/2017 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2017/QĐXXST-DS ngày 28/12/2017, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V; địa chỉ: Tầng 1-7 Tòa nhà T, Số 72, phố T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội;
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phan Thúc Đ, sinh năm 1988; chức vụ: Nhân viên pháp lý; địa chỉ liên hệ: Lầu 5, Tòa nhà 144, đường C, Phường 12, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 01/11/2017); xin vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Lâm Thị Sà R, sinh năm 1993; địa chỉ thường trú: Ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; tạm trú: Nhà trọ Dương Văn L thuộc Tổ 4, khu phố B, phường K, thị xã T, tỉnh Bình Dương; xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 14/3/2017, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Phan Thúc Đ trình bày: Ngày 07/10/2014, bà Lâm Thị Sà R có ký kết hợp đồng tín dụng số 20141024-500002-0108 với Ngân hàng TMCP V để vay số tiền 31.500.000 đồng với lãi suất 3,75%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận tại hợp đồng, bà Lâm Thị Sà R có trách nhiệm thanh toán tổng số tiền 53.341.000 đồng (cả gốc và lãi), trả chậm trong 30 tháng, 29 tháng đầu mỗi tháng trả 1.767.000 đồng, tháng cuối cùng trả 2.098.000 đồng. Kỳ thanh toán đầu tiên bắt đầu từ ngày 01/12/2014.
Thực hiện hợp đồng, bà Lâm Thị Sà R đã nhận đủ số tiền 30.000.000 đồng (còn 1.500.000 đồng là phí bảo hiểm) để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho Ngân hàng TMCP V được 10 kỳ với tổng số tiền đã thanh toán là 19.437.000 đồng. Tuy nhiên từ ngày 08/11/2016 đến nay, bà Lâm Thị Sà R không thanh toán thêm bất cứ khoản nào dù Ngân hàng đã nhở nhiều lần.
Hiện bị đơn bà Lâm Thị Sà R còn nợ Ngân hàng TMCP V tổng số tiền là 33.690.912 đồng (Ba mươi ba triệu sáu trăm chín mươi nghìn chín trăm mười hai đồng), trong đó khoản nợ đến hạn là 33.690.912 đồng, khoản nợ chưa đến hạn là 0 đồng.
Việc bà R đề nghị được thanh toán mỗi tháng từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ thì hai bên sẽ thỏa thuận tại cơ quan Thi hành án dân sự.
Vì vậy, Ngân hàng TMCP V khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc bị đơn bà Lâm Thị Sà R phải trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền nợ vay là 33.690.912 đồng (Ba mươi ba triệu sáu trăm chín mươi nghìn chín trăm mười hai đồng), trong đó khoản nợ đến hạn là 33.690.912 đồng, khoản nợ chưa đến hạn là 0 đồng.
Vì lý do bận công việc, không có thời gian tham gia tố tụng nên ông Đ có đơn đề nghị Toà án xét xử vụ án vắng mặt.
- Bị đơn bà Lâm Thị Sà R trình bày: Bà R thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn và thừa nhận ngày 07/10/2014, bà Lâm Thị Sà R có ký kết hợp đồng tín dụng số 20141024-500002-0108 với Ngân hàng TMCP V để vay số tiền 31.500.000 đồng với lãi suất 3,75%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Tuy nhiên, do hoàn cảnh khó khăn nên mới thanh toán được cho nguyên đơn số tiền 19.437.000 đồng. Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn đồng ý thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc còn lại là 22.946.000 đồng và xin giảm mức lãi suất xuống còn 1%/tháng; đồng thời bà R đề nghị được thanh toán mỗi tháng từ 1.000.000 đồng - 1.500.000 đồng cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Do bận công việc, không có thời gian tham gia tố tụng nên bà R có đơn đề nghị Toà án xét xử vụ án vắng mặt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã T tham gia phiên toà phát biểu quan điểm như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Hợp đồng tín dụng giữa bà Lâm Thị Sà R với Ngân hàng TMCP V là hoàn toàn hợp pháp. Quá trình thực hiện hợp đồng bà R đã thanh toán cho Ngân hàng được 10 lần với tổng số tiền 19.437.000 đồng. Như vậy, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với Luật các tổ chức tín dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án dân sự về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng mà bị đơn cư trú tại thị xã T và nguyên đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã T giải quyết. Căn cứ vào Điều 26, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương.
[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn bà Lâm Thị Sà R phải trả số tiền nợ vay còn lại là 33.690.912 đồng (Ba mươi ba triệu sáu trăm chín mươi nghìn chín trăm mười hai đồng), Hội đồng xét xử thấy:
[2.1] Ngày 07/10/2014 giữa bà Lâm Thị Sà R với Ngân hàng TMCP V (sau đây gọi tắt là Ngân hàng V) có ký Hợp đồng tín dụng số 20141024-500002-0108. Nội dung của hợp đồng thể hiện: Bà Lâm Thị Sà R có vay của Ngân hàng V số tiền 31.500.000 đồng với lãi suất 3,75%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Hợp đồng tín dụng nêu trên phù hợp với các Điều 90, 91 và Điều 108 của Luật các tổ chức tín dụng và Điều 17 của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (Ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 783/2005/QĐ-NHNN ngày 31/5/2005 và Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005).
[2.2] Bà R đã ký hợp đồng tín dụng và đã nhận đủ số tiền vay là 31.500.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà R đã thanh toán được 10 kỳ với tổng số tiền 19.437.000 đồng. Bà R thống nhất về số nợ gốc, lãi suất, số tiền lãi và đồng ý trả số tiền nợ gốc còn lại. Như vậy, đây là các tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2.3] Bà R đồng ý thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc còn lại là 22.946.000 đồng và xin giảm mức lãi suất xuống còn 1%/tháng. Xét thấy bà R đã ký hợp đồng tín dụng số 20141024-500002-0108 ngày 07/10/2014 với Ngân hàng V và đã chấp nhận toàn bộ nội dung của hợp đồng trong đó có mức lãi suất nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu về giảm lãi suất của bà R.
[2.4] Về phương thức thanh toán: Bà R đề nghị được thanh toán nợ cho Ngân hàng V mỗi tháng từ 1.000.000 đồng - 1.500.000 đồng cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ nhưng nguyên đơn không đồng ý. Căn cứ Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự nên Hội đồng xét xử không đề cập vào việc thanh toán nợ của các đương sự.
[2.5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Như vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.6] Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận toàn bộ nên không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp; bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 92, 147, 228, 266, 271, 273 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 90, 91 và Điều 108 của Luật các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ Điều 17 của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (Ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 783/2005/QĐ-NHNN ngày 31/5/2005 và Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005);
- Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn bà Lâm Thị Sà R.
2. Bà Lâm Thị Sà R phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền 33.690.912 đồng (Ba mươi ba triệu sáu trăm chín mươi nghìn chín trăm mười hai đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán số tiền phải thi hành thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thi hành.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
3.1. Bà Lâm Thị Sà R phải nộp số tiền 1.684.545 đồng (Một triệu sáu trăm tám mươi bốn nghìn năm trăm bốn mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
3.2. Ngân hàng Thương mại Cổ phần V không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm được nhận lại số tiền 842.000 đồng (Tám trăm bốn mươi hai nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003882, ngày 21/3/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự (03); - TAND tỉnh Bình Dương (01); - VKSND tỉnh Bình Dương (01); - VKSND thị xã T (01); - THADS thị xã T (01); - Chi cục THADS huyện C, tỉnh Sóc Trăng (01); - Lưu: HS, VT (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Bùi Thị Hiền |