- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở — án dân sự — "Bản án dân sự"
- Tòa quyết gì? Bác toàn bộ nội dung khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Thị H về yêu cầu khởi kiện buộc ông Đinh Văn T trả lại 3000, m2 đất đã chiếm dụng.
- Căn cứ chính? Điều 12 Thông tư số 236/2016/TT-BTC Quy định về giá dịch vụ thẩm địn…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 13/2018/DS-ST Ngày 04/5/2018 “Về tranh quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Thanh Quang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Nguyễn Thanh Toàn
2. Ông: Đinh Minh Tặng
- Thư ký phiên toà: Ông Trương Quốc Hoàn – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa tham gia phiên tòa: Bà
Đinh Thị Hoài Thanh – Kiểm sát viên
Ngày 04/5/2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tØnh Quảng Bình, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2017/TLST – DS ngày 23/10/2017 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2017/QĐXXST-DS, ngày 19 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Cao Thị H
Trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình, có mặt
2. Bị đơn: Ông Đinh Văn Thiệu
Trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình, có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 20/10/2007; tại bản tự khai ngày 05/10/2017 và quá trình tố tụng tại tòa án bà H trình bày:
Năm 2000 gia đình bà được Chủ tịch huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 37, 65, 86, tờ Bản đồ số 37, diện tích thửa đất là 68515 m2, địa chỉ thửa đất thôn Đ, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình. Đến năm 2016 bà H phát hiện gia đình ông T trú tại thôn Đa xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình chiếm dụng và trồng trên 3000m2 trên đất thuộc thửa đất số 37, 65, 86, tờ Bản đồ số 37 của gia đình bà. Sau khi phát hiện ông T chiếm dụng đất, bà H đã báo cáo với chính quyền thôn Đ, xã H và được Ủy ban nhân dân xã H hòa giải nhưng hai bên không nhất trí. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa đã mở nhiều phiên hòa giải nhưng không thành , bà H vẫn giữ nguyên quan điểm yêu cầu ông T trả lại đất đã chiếm dụng của bà.
Về phía bị đơn ông Đinh Văn T trình bày như sau: Gia đình ông T được UBND huyện Minh Hóa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2000. Đất này trước đây được địa chính đo đạc sau đó giao cho thôn chia lại đất cho từng hộ gia đình theo số người trong gia đình mối người 8 mét dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh. Ông T cho rằng ông không lấn chiếm qua đất của bà H. Việc bà H khởi kiện yêu cầu ông trả lại 3000 m2 đất là không có căn cứ.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án và phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng như sau:Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án và những người tham gia tố tụng đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa hôm nay. Về quan điểm giải quyết vụ án: Diện tích đất tranh chấp không thuộc quyền sử dụng đất của hộ gia đình bà H và hộ gia đình ông T mà thuộc quyền sử dụng của người khác, vì vậy việc bà H khởi kiện ông ông T trả lại đất cho bà H là không có căn cứ nên cần bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Cao Thị H yêu cầu ông Đinh Văn T trả lại toàn bộ diện tích 3000 m2 .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Bà Cao Thị H có hộ khẩu thường trú tại Thôn Đ, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình đã được Ủy ban nhân dân huyện Minh Hóa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thôn , xã H. Sau khi phát hiện ông T chiếm dụng một phần diện tích đất của bà nên bà H đã khởi kiện vụ án dân sự nói trên. Căn cứ vào Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa.
. Về nội dung: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa đã tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau giải quyết vụ án nhưng không thành. Ngày 29/02/2018 bà Đinh Thị H đã làm đơn yêu cầu Tòa án xem xét thẩm định tại chổ và định giá các tài sản trên thửa đất tranh chấp. Ngày 14/3/2018 Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa tiến hành xem xét thẩm định tại chổ thửa đất tranh chấp có kết quả như sau:
Hội đồng xem xét thẩm định tại chổ tiến hành đo tứ cận thửa đất tranh chấp bằng máy định vị GPRS đã xác định: Cạnh phía Bắc giáp đất ông Đ dài 46,6 mét; Cạnh phía Nam giáp đường giao thông dài 21,9 mét; Cạnh phía Đông giáp đất ông Đ dài 131,5 mét; Cạnh phía Tây giáp đất ông Đ dài 95 mét. Diện tích thửa đất tranh chấp là 1581 m2, toàn bộ diện tích đất tranh chấp nằm trong thửa đất số 90, tờ bản đồ số 37, chủ sử dụng đất là ông Đinh Minh Đ, trú tại thôn Đa, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình.
. Xét thấy bà H khởi kiện yêu cầu ông T trả lại đất đã chiếm dụng của bà nhưng qua xem xét thẩm định tại chổ thửa đất tranh chấp cho thấy tứ cận của thửa đất tranh chấp mà Hội đồng xem xét thẩm định tại chổ thu được các tọa độ cũng như ranh giới không nằm trong diện tích đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Cao Thị H mà tổng diện tích thửa đất đang tranh chấp thuộc thửa đất số 90, tờ bản đồ số 37, chủ sử dụng đất là ông Đinh Minh Đ, trú tại thôn Đ, xã H, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình. Từ những phân tích đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử nhận định: Vùng đất tranh chấp mà bà H khởi kiện không thuộc quyền sử dụng của bà H, bà H không có quyền và lợi ích hợp pháp trên vùng đất này, nên bà Hương không có quyền khởi kiện để yêu cầu giải quyết tranh chấp tại vùng đất nói trên. Do vậy cần tuyên bác toàn bộ nội dung khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Thị H là đúng quy định tại Điều 186, Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về án phí: Bà H thuộc diện hộ nghèo có giấy xác nhận của UBND xã H nên miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Điều 35, Điều 39, Điều 147, 186 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 236/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về Án phí , Lệ phí Toà án, xử:
1. Bác toàn bộ nội dung khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Thị H về yêu cầu khởi kiện buộc ông Đinh Văn T trả lại 3000, m2 đất đã chiếm dụng.
2. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Cao Thị H.
Án xử công khai báo cho các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 04/5/2018, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: -VSND huyện Minh Hóa; - Toà án ND tỉnh Quảng Bình; - C.C thi hành án DS Minh Hóa; - Nguyên đơn, bị đơn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Đinh Thanh Quang |