- Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán"
- Tòa quyết gì? Xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đối với Đỗ Hoàng M và bà Nguyễn Thị Ngọc H1.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 305 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U M THƯỢNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 13/2018/DS-ST. Ngày: 29/6/2018 V/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán vật tư nông nghiệp” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U M THƯỢNG
Với tH1nh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Tịnh
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Lâm Tấn Đạt.
2. Nguyễn Thị Ngọc Kim.
Thư ký phiên tòa: Bà Thị Thúy Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện U M Thượng, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U M Thượng tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp không tham gia phiên tòa sơ thẩm.
Ngày 29 tháng 6 năm 2018, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện U M Thượng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 76/2018/TLST-DS ngày 03 tháng 5 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán vật tư nông nghiệp” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2018/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2018/QĐST-DS, ngày 19 tháng 6 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1972; địa chỉ cư trú: ấp PH, xã ĐT, huyện AB, tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn: ông Đỗ Hoàng M sinh năm 1978 cùng vợ là bà Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh năm 1986; địa chỉ cư trú: ấp Kinh Năm, xã An M Bắc, huyện U M Thượng, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16 tháng 4 năm 2018 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện U M Thượng, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
Vợ chồng ông Đỗ Hoàng M, bà Nguyễn Thị Ngọc H1 có đến cửa hàng của ông Nguyễn Văn T (Nam T) mua nợ phân bón và thuốc bảo vệ thực vật tính đến ngày 11/3/2013 vợ chồng ông M, bà H1 nợ ông T số tiền là 13.000.000 đồng và thỏa T lãi suất chậm trả 2%/tháng. Ông T nhiều lần đến nhà ông M yêu cầu thanh toán số nợ trên, nhưng ông M hứa hẹn mà không trả.
Nay ông T khởi kiện yêu cầu vợ chồng M, bà H1 trả số tiền 13.000.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật từ ngày 11/3/2013 đến ngày xét xử sơ thẩm.
Bị đơn ông Đỗ Hoàng M và bà Nguyễn Thị Ngọc H1 vắng mặt tại phiên tòa. Tại Bản tự khai và các lời khai tại Tòa án bà Nguyễn Thị Ngọc H1 trình bày như sau:
Bà H1 thừa nhận vợ chồng bà còn nợ tiền mua phân bón và thuốc bảo vệ thực vật của ông Nguyễn Văn T (Nam T) số tiền là 13.000.000 đồng và tiền lãi là 6.000.000đ; tổng cộng là 19.000.000đ. Bà H1 đồng ý trả toàn bộ số nợ nhưng hiện nay bà và ông M đã sống riêng nên yêu cầu ông M có trách nhiệm trả nợ chung với bà H1.
Tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được như sau: Giấy tập học sinh ghi tên hàng hóa bán cho ông M; Bản tự khai của bà Nguyễn Thị Ngọc H1; Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do ông Nguyễn Văn T đại diện đứng tên.
Tại phiên tòa: Ông T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đòi ông M và bà H1 trả số tiền là 13.000.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật từ ngày 11/3/2013 đến ngày 29/6/2018.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: bị đơn ông Đỗ Hoàng M và bà Nguyễn Thị Ngọc H1 được Tòa án triệu tập lần thứ hai tham gia phiên tòa xét xử nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông M và bà H1.
Về quan hệ pháp luật: tranh chấp giữa ông T với vợ chồng ông M, bà H1 là “Tranh chấp hợp đồng mua bán vật tư nông nghiệp” quy định tại Điều 428 Bộ luật dân sự năm 2005.
Về nội dung tranh chấp: xét yêu cầu của ông T đòi ông M và bà H1 trả số nợ 13.000.000đ. Thấy rằng, tính đến ngày 11.3.2013 giữa ông T với ông M và bà H1 có thực hiện giao dịch hợp đồng mua bán vật tư nông nghiệp, thể qua sổ ghi tên hàng hóa và lời thừa nhận của bà H1 có nợ ông T số tiền là 13.000.000đ là đúng sự thật, nhưng do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên chưa có điều kiện trả nợ. Giao dịch do các bên xác lập tại thời điểm Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực nên áp dụng Điều 428 quy định về hợp đồng mua bán và Điều 438 quy định về nghĩa vụ trả tiền theo quy định Bộ luật dân sự năm 2005. Buộc ông M và bà H1 trả cho ông T số tiền gốc là 13.000.000đ (mười ba triệu đồng chẵn).
Về lãi suất: tại thời điểm xác lập giao dịch các bên thỏa T lãi suất là 2%/tháng; nhưng tại phiên tòa ông T yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật; tại bản tự khai ngày 23.5.2018 bà H1 cũng đồng ý trả số tiền lãi là 6.000.000đ (sáu triệu đồng chẵn). Xét thấy, tại thời điểm giải quyết vụ án các bên phát sinh tranh chấp về mặt lãi suất nên căn cứ khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự năm 2005, áp dụng mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố (9%/năm) theo quyết định 2868, ngày 29.11.2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để tính lãi suất chậm trả. Số tiền lãi được tính như sau: 13.000.000đ x 0,75% x 63 tháng (từ ngày 11.3.2013 đến ngày 29.06.2018) = 6.142.500đ (sáu triệu một trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm đồng chẵn).
Theo lời trình bày của bà H1 thì bà và ông M hiện sống ly thân nhưng hai người chưa làm thủ tục ly hôn và chưa chia tài sản chung. Xét thấy, giao dịch mua bán do ông M và bà H1 cùng thực hiện trong quá trình chung sống nên phải chịu trách nhiệm trả nợ chung.
Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử thống nhất buộc vợ chồng ông M, bà H1 trả cho ông T tổng số tiền 19.142.500 đồng (tiền gốc là 13.000.000 đồng và tiền lãi là 6.142.500 đồng).
Về án phí sơ thẩm: Buộc ông M và bà H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 19.142.500 đồng x 5% = 957.000 đồng (chín trăm năm mươi bảy nghìn đồng).
Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn T số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các điều 92, 147, 227, 228, 271, 273, của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng các điều 305; điều 428, điều 438 của Bộ luật Dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Quyết định 2868, ngày 29.11.2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
1. Xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đối với Đỗ Hoàng M và bà Nguyễn Thị Ngọc H1.
Buộc vợ chồng ông Đỗ Hoàng M và bà Nguyễn Thị Ngọc H1 trả cho ông Nguyễn Văn T số tiền 19.142.500đ (mười chín triệu một trăm bốn hai mươi hai nghìn năm trăm đồng).
Các bên trực tiếp giao nhận tiền hoặc giao nhận tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bên phải thi hành án vi phạm nghĩa vụ trả nợ và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án thì bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí sơ thẩm: Buộc ông M và bà H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 19.142.500 đồng x 5% = 957.000 đồng (chín trăm năm mươi bảy nghìn đồng).
Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 325.000 đồng (Ba trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo lai thu số 0004115 ngày 26/4/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.
3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi H1nh án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án tỉnh Kiên Giang; - VKS ND huyện UMT; - Chi cục Thi H1nh án dân sự huyện UMT; - Lưu. | TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Văn Tịnh |