- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thanh C, Hoàng Thị H - Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận việc thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Thanh C và chị Hoàng Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
| TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2017/HNGĐ-ST Ngày 13/12/2017 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Dung
2. Bà Đinh Thị Út
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Dần - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
Ngày 13 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 86/2017/TLST - HNGĐ, ngày 17 tháng 10 năm 2017về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2017/QĐST-HNGĐ, ngày 30 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thanh C, sinh năm 1984. Địa chỉ cư trú: Bản Đao, xã Xuân Hòa, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai - có mặt.
2. Bị đơn: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1992. Địa chỉ cư trú: Xóm Hạ, xã Xuân Hòa, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai - có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 22/9/2017 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Nguyễn Thanh C trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Hoàng Thị Họa kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Xuân Hòa, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai ngày 06/4/2011. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống hòa thuận hạnh phúc được 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống trong làm ăn và nuôi dạy con cái. Từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, đánh cãi chửi nhau. Chị Họa còn có quan hệ bất chính với người đàn ông khác. Sự việc xảy ra đã được gia đình khuyên bảo nhiều lần nhưng không khắc phục được. Anh chị đã sống ly thân với nhau từ năm 2016, đến nay không quan tâm thăm hỏi gì nhau nữa. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn gia đình trầm trọng kéo dài, anh có nguyện vọng được ly hôn với chị Hoàng Thị Họa.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống, anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh Chiến, sinh ngày 27/12/2011. Hiện nay cháu phát triển khỏe mạnh bình thường và anh đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu. Sau khi ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu và không yêu cầu chị Họa phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản gì chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay, anh C vẫn giữ nguyên yêu cầu.
Bị đơn chị Hoàng Thị H trình bày: Về thời gian, địa điểm, điều kiện đăng ký kết hôn, về tài sản và trong quá trình sinh sống cũng như tình cảm hiện nay của vợ chồng đúng như anh C trình bày. Nay anh C làm đơn yêu cầu ly hôn, về tình cảm, tài sản chung chị đồng ý. Riêng về con chung, chị trình bày chị cũng có nguyện vọng được nuôi con và yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con là 200.000đ/tháng. Theo chị, hiện tại tuy cháu Chiến đang do anh C nuôi dưỡng nhưng chị là mẹ cháu nên việc chăm sóc, giáo dục cháu sẽ tốt hơn nên chị đề nghị Tòa xem xét cho nguyện vọng của chị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn là chị Hoàng Thị H có hộ khẩu thường trú tại Xóm Hạ, xã Xuân Hòa, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai vì vậy Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành thông báo và tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho các bên đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 175 và khoản 1, khoản 2 Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại các Điều 209, Điều 210 Điều 211 Bộ luật tố tụng dân sự. Tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 205 Bộ luật tố tụng dân sự để hai bên thỏa thuận với nhau việc giải quyết vụ án nhưng không thành do các bên đương sự tranh chấp với nhau về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con sau khi ly hôn theo Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Thanh C và chị Hoàng Thị H là mối quan hệ hôn nhân hợp pháp, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được pháp luật thừa nhận. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không đầm ấm và không hạnh phúc. Tại phiên tòa, anh C và chị H đề nghị Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn. Việc thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Thanh C và chị Hoàng Thị H là hoàn toàn tự nguyện, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, anh C và chị H có một con chung là cháu Nguyễn Minh Chiến, sinh ngày 27/12/2011. Nguyện vọng của anh C và chị H đều có mong muốn được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và anh C không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con, chị H yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung là 200.000đ/tháng.
Tòa xét thấy nguyện vọng muốn được nuôi con của anh C và chị H là chính đáng và cả anh, chị đều có quyền nuôi dưỡng con như nhau. Tuy nhiên việc giao cho ai nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cần phải xem xét về mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Xét điều kiện, hoàn cảnh hiện nay: Chị Hoàng Thị H làm nghề trồng trọt, từ đầu năm 2016 chị đi làm công nhân nhà máy Sam Sung tại tỉnh Vĩnh Phúc, chị H chưa có nhà riêng mà ở cùng bố mẹ đẻ, quá trình giải quyết vụ án chị cũng không cung cấp cho Tòa án căn cứ về thu nhập của chị hiện nay do đó việc đảm bảo cuộc sống và học tập của cháu Chiến sẽ khó khăn. Mặt khác, anh C đang có chỗ ở ổn định tại Bản Đao, xã Xuân Hòa, huyện Bảo Yên; anh làm nghề trồng trọt và khai thác cát sỏi với mức thu nhập hàng tháng khoảng 7.000.000đ; từ khi anh chị ly thân (năm 2016) cho đến nay, cháu Nguyễn Minh Chiến sinh sống với anh C và do anh Nguyễn Thanh C nuôi dưỡng, chăm sóc (có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Xuân Hòa, huyện Bảo Yên), hiện nay cháu phát triển khỏe mạnh bình thường. Trong thời gian anh chị ly thân, anh C vẫn tạo điều kiện để chị H đi lại, thăm nom cháu Chiến. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của cháu Nguyễn Minh Chiến cần chấp nhận yêu cầu của anh C. Giao con chung cho anh C tiếp tục nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi, do anh C không yêu cầu chị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nên không yêu cầu chị có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Anh Nguyễn Thanh C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận việc thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Thanh C và chị Hoàng Thị H.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh Chiến, sinh ngày 27/12/2011 cho anh Nguyễn Thanh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chị Hoàng Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị H có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Anh Nguyễn Thanh C phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0001252, ngày 17 tháng 10 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm. Anh Nguyễn Thanh C và chị Hoàng Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện Bảo Yên; - UBND xã Xuân Hòa; - Chi cục THADS huyện Bảo Yên; - Các đương sự; - Lưu Hsơ; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hoàng Tùng |