- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Minh T.
- Căn cứ chính? Luật Thi hành án dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1294/2023/HNGĐ-ST Ngày: 27-7-2023 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Duyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thanh Mai.
2. Ông Phạm Văn Hễ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Nguyễn Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 27 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 697/2022/TLST-HNGĐ ngày 29/12/2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2740/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Minh T, sinh năm 1978
Cư trú: 20/35 đường B, Phường C, quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Nguyen A Hong, sinh năm 1964
Địa chỉ: 8811 X Y 77063, USA.
Các đương sự đã có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 15/11/2022 và bản tự khai, nguyên đơn bà Phạm Thị Minh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyen A Hong kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ngày 24/12/2009 và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 133, quyển số 01 ngày 12/01/2010. Sau khi kết hôn, thời gian đầu giữa bà và ông Nguyen A Hong chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm, lối sống và nuôi dạy các con chung. Hiện nay, ông Nguyen A Hong đang sinh sống và làm việc tại Hoa Kỳ còn bà vẫn ở Việt Nam. Từ khi về Hoa Kỳ thì giữa bà và ông Nguyen A Hong thỉnh thoảng có liên lạc để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Do không có điều kiện gặp nhau để hàn gắn tình cảm nên tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không giải quyết được, khả năng đoàn tụ lại không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị được ly hôn với ông Nguyen A Hong để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Bà và ông Nguyen A Hong có hai con chung tên là Nguyễn Phạm Minh L, sinh ngày 04/01/2010, giới tính: Nam và Nguyễn Phạm Minh V, sinh ngày 11/6/2012, giới tính: Nam. Bà đồng ý giao hai con chung cho ông Nguyen A Hong trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi các con chung bà và ông Nguyen A Hong tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà và ông Nguyen A Hong tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có.
Vì bận việc, bà yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.
Tại Bản tự khai đã được chứng thực tại Lãnh sự quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Houston, Hoa Kỳ ngày 27/02/2023 bị đơn ông Nguyen A Hong xác nhận lời trình bày của bà Phạm Thị Minh T về thời điểm kết hôn, về mâu thuẫn chung của vợ chồng. Nay bà T xin ly hôn, ông đồng ý được ly hôn với bà T.
Về con chung: Ông và bà Phạm Thị Minh T có hai con chung tên là Nguyễn Phạm Minh L, sinh ngày 04/01/2010, giới tính: Nam và Nguyễn Phạm Minh V, sinh ngày 11/6/2012, giới tính: Nam. Ông đồng ý là người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc các con chung. Việc cấp dưỡng nuôi các con chung ông và bà Phạm Thị Minh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Ông và bà Phạm Thị Minh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có.
Do điều kiện đi lại gặp nhiều khó khăn, ông yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Bà Phạm Thị Minh T và ông Nguyen A Hong kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Căn cứ theo Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa bà T và ông Nguyen A Hong là hôn nhân hợp pháp.
Nguyên đơn cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh; Bị đơn hiện cư trú tại nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét bản tự khai của ông Nguyen A Hong đã được chứng thực tại Lãnh sự quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Houston, Hoa Kỳ ngày 27/02/2023 nên được xem là chứng cứ hợp pháp của vụ án theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn và bị đơn có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết, yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được quy định tại Khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của bà Phạm Thị Minh T được ly hôn ông Nguyen A Hong. Hội đồng xét xử xét thấy: Qua lời trình bày của bà T và ông Nguyen A Hong thì thực tế sau khi kết hôn hai bên phát sinh mâu thuẫn không thể giải quyết được. Từ khi kết hôn cho đến nay, bà T và ông Nguyen A Hong xảy ra nhiều mâu thuẫn trong quá trình chung sống, do xa cách địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, hai bên chưa có sự gắn kết sâu đậm về tình cảm vợ chồng. Hiện nay bà T và ông Nguyen A Hong đang sinh sống ở hai nước khác nhau nên khả năng đoàn tụ không có, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà Phạm Thị Minh T yêu cầu được ly hôn ông Nguyen A Hong là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Phạm Minh L, sinh ngày 04/01/2010, giới tính: Nam và Nguyễn Phạm Minh V, sinh ngày 11/6/2012, giới tính: Nam. Bà Phạm Thị Minh T và ông Nguyen A Hong cùng thỏa thuận giao 02 con chung cho ông Nguyen A Hong trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung các bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xét thấy, sự tự nguyện này của bà Phạm Thị Minh T và ông Nguyen A Hong là phù hợp với quy định pháp luật và nguyện vọng của các con đều mong muốn sống cùng ông Nguyen A Hong. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này của bà T và ông Nguyen A Hong.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có.
Án phí sơ thẩm:
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Phạm Thị Minh T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bà Phạm Thị Minh T và ông Nguyen A Hong có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Minh T.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Minh T được ly hôn ông Nguyen A Hong.
Giấy chứng nhận kết hôn số 133, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12/01/2010 cho bà Phạm Thị Minh T và ông Nguyen A Hong không còn giá trị pháp lý.
Về con chung: Giao hai con chung tên là Nguyễn Phạm Minh L, sinh ngày 04/01/2010, giới tính: Nam và Nguyễn Phạm Minh V, sinh ngày 11/6/2012, giới tính: Nam cho ông Nguyen A Hong trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi các con chung các bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu được quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn), bà Phạm Thị Minh T chịu và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà bà T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003804 ngày 27/12/2022 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T đã nộp đủ tiền án phí.
3. Bà Phạm Thị Minh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. Ông Nguyen A Hong được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - Cục THADS TP.HCM; - UBND TP. HCM; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Bích Duyên |